Điều ước Nam Kinh là hiệp ước nhà Thanh ký với Anh ngày 29 tháng 8 năm 1842 trên chiến hạm Cornwallis neo ở sông Dương Tử gần Nam Kinh, kết thúc cuộc Chiến tranh Nha phiến thứ nhất. Theo 13 điều khoản, nhà Thanh nhượng đảo Hồng Kông, mở năm cảng cho thương nhân Anh, bồi thường 21 triệu đồng bạc và bãi bỏ chế độ độc quyền thương mại ở Quảng Châu. Đây là văn bản mở đầu cho cái mà sử học gọi là thời kỳ "hiệp ước bất bình đẳng" ở Đông Á, và cũng là lời cảnh báo mà các triều đình láng giềng, trong đó có triều Nguyễn, đều nghe thấy.
Từ hệ thống Quảng Châu tới chiến tranh
Từ năm 1757, nhà Thanh chỉ cho thương nhân phương Tây buôn bán ở một cảng là Quảng Châu, qua một nhóm thương hành được cấp phép gọi là Công hành (Cohong). Người nước ngoài không được vào nội địa, không được gặp quan chức trực tiếp, chỉ ở trong khu thương quán ngoài thành vào mùa buôn bán.
Người Anh mua rất nhiều trà, lụa, đồ sứ, nhưng Trung Hoa lại ít mua hàng Anh, nên bạc chảy sang phía đông. Để bù lại, thương nhân Anh, với sự dung túng của Công ty Đông Ấn, đưa nha phiến trồng ở Ấn Độ vào Trung Hoa bằng đường buôn lậu. Đến thập niên 1830, dòng bạc đảo chiều: bạc chảy ra khỏi Trung Hoa, và nạn nghiện lan rộng.
Năm 1839, khâm sai đại thần Lâm Tắc Từ tới Quảng Châu, buộc thương nhân nộp nha phiến và tiêu huỷ hơn hai vạn hòm tại Hổ Môn. Anh lấy cớ bảo vệ tài sản và thương nhân của mình để đưa hạm đội sang. Chiến sự kéo dài từ 1839 tới 1842 và chênh lệch rất xa về sức mạnh hải quân và hoả lực. Khi quân Anh chiếm Trấn Giang, chặn Đại Vận Hà, rồi tiến tới Nam Kinh, nhà Thanh buộc phải xin hoà.
Hai bên trên bàn ký
Phía Thanh do Kỳ Anh (Qiying), một hoàng thân Mãn Châu, cùng Y Lý Bố (Yilibu) và Ngưu Giám đại diện. Phía Anh là Henry Pottinger, toàn quyền đại diện của London. Văn bản ký trên tàu chiến Anh, một chi tiết không phải ngẫu nhiên: chính địa điểm ký đã nói lên ai đang ở thế trên.
Đàm phán diễn ra rất nhanh, vì bên yếu không còn nhiều chỗ để mặc cả. Phía Thanh gần như chỉ cố gắng được ở mấy điểm câu chữ, nhất là cách xưng hô, để giữ thể diện của hoàng đế Đạo Quang trước triều đình.
Nội dung chính của 13 điều
- Hoà bình giữa hai nước và an toàn cho người của mỗi bên ở nước kia.
- Mở năm cảng: Quảng Châu, Hạ Môn (Amoy), Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải; người Anh được cư trú cùng gia đình, Anh được đặt lãnh sự.
- Nhượng đảo Hồng Kông cho vua Anh và người nối ngôi "vĩnh viễn".
- Bồi thường 21 triệu đồng bạc, trả theo nhiều đợt tới năm 1845, gồm: 6 triệu cho số nha phiến bị tiêu huỷ, 3 triệu cho các khoản nợ của Công hành với thương nhân Anh, 12 triệu cho chi phí chiến tranh.
- Bãi bỏ Công hành, thương nhân Anh được buôn bán với bất kỳ ai.
- Định thuế quan công khai và "công bằng" cho hàng xuất nhập khẩu ở các cảng.
- Quan hệ công văn ngang hàng giữa quan chức hai bên, dùng những từ ngữ không mang nghĩa trên dưới.
- Thả tù binh và ân xá cho người Trung Hoa từng làm việc cho quân Anh.
Điều gây chú ý là hiệp ước không nói gì về nha phiến, ngoài việc đòi tiền đền cho số đã bị huỷ. Món hàng đã gây ra chiến tranh không bị cấm, cũng không được hợp pháp hoá. Buôn lậu nha phiến vẫn tiếp tục như trước.
Những điều khoản bổ sung còn nặng hơn
Năm 1843, hai bên ký thêm một hiệp ước bổ sung ở Hổ Môn (Bogue). Hai điều khoản trong đó về sau mới là gánh nặng lâu dài:
- Lãnh sự tài phán: người Anh phạm tội ở Trung Hoa sẽ do quan Anh xét xử theo luật Anh, không phải toà án nhà Thanh.
- Tối huệ quốc: bất kỳ đặc quyền nào nhà Thanh trao cho nước khác sau này, Anh cũng được hưởng tự động.
Điều khoản tối huệ quốc là một cơ chế dây chuyền: một nước giành được quyền gì, mọi nước có điều khoản ấy đều được theo. Năm 1844, Mỹ ký hiệp ước Vọng Hạ, Pháp ký hiệp ước Hoàng Phố, mỗi văn bản lại thêm vài đặc quyền, và tất cả cùng nhân lên.
| Năm | Văn bản | Điểm mới |
|---|---|---|
| 1842 | Điều ước Nam Kinh (Anh) | Năm cảng, Hồng Kông, bồi thường, bỏ Công hành |
| 1843 | Hiệp ước bổ sung Hổ Môn (Anh) | Lãnh sự tài phán, tối huệ quốc, biểu thuế cụ thể |
| 1844 | Hiệp ước Vọng Hạ (Mỹ) | Mở rộng lãnh sự tài phán, hẹn sửa lại sau 12 năm |
| 1844 | Hiệp ước Hoàng Phố (Pháp) | Quyền xây nhà thờ ở các cảng mở |
| 1858–1860 | Các hiệp ước Thiên Tân, Bắc Kinh | Sau Chiến tranh Nha phiến thứ hai: thêm cảng, sứ quán ở Bắc Kinh, nha phiến được hợp pháp hoá |
Thế nào là "hiệp ước bất bình đẳng"
Đây là cụm từ đời sau đặt ra, không phải thuật ngữ của năm 1842. Các nhà sử học dùng nó cho một nhóm hiệp ước thế kỷ 19 mà các nước phương Tây áp đặt lên các nước châu Á, có chung mấy đặc điểm: ký sau thất bại quân sự hoặc dưới đe doạ bằng vũ lực; một bên được quyền tài phán với công dân của mình trên đất bên kia; thuế quan do hiệp ước ấn định, nước sở tại không tự đổi được; và điều khoản tối huệ quốc chỉ chạy một chiều.
Đáng chú ý là chính các quan chức nhà Thanh ký năm 1842–1844 chưa nhận ra hết sức nặng của lãnh sự tài phán hay tối huệ quốc. Họ quen tư duy "cho người man di tự quản lấy nhau" như cách vẫn đối xử với thương nhân nước ngoài trước đó. Thiếu hiểu biết về luật quốc tế phương Tây là một điểm yếu thật trên bàn đàm phán, bên cạnh điểm yếu quân sự.
Tiếng vang trong khu vực
Tin nhà Thanh thua trận lan khắp Đông Á. Ở Nhật Bản, Mạc phủ Tokugawa nới lỏng lệnh đánh đuổi tàu ngoại quốc năm 1842, cho phép cấp củi nước cho tàu lạ. Khi Perry tới năm 1853, giới cầm quyền Nhật đã có sẵn bài học Trung Hoa trước mặt. Ở Đại Nam, triều Nguyễn theo dõi qua các sứ đoàn sang Thanh và qua thương nhân; tâm lý đề phòng tàu Tây càng tăng. Hai thập kỷ sau, chính triều Nguyễn cũng phải ký những hoà ước với Pháp mang nhiều đặc điểm tương tự.
Bài học về quyền lực
- Bên không có phương án thay thế gần như không đàm phán được. Khi Nam Kinh bị đe doạ, nhà Thanh chỉ còn chọn chấp nhận.
- Điều khoản nhỏ có thể nặng hơn điều khoản lớn. Hồng Kông và tiền bồi thường dễ thấy, nhưng lãnh sự tài phán và tối huệ quốc mới ràng buộc lâu dài.
- Không hiểu luật chơi của bên kia là thua hai lần. Thiếu kiến thức về luật quốc tế khiến phía Thanh nhượng những thứ họ không ngờ là quan trọng.
- Thứ không được nói ra cũng là một quyết định. Việc im lặng về nha phiến để ngỏ đường cho buôn lậu tiếp diễn.
Muốn tìm hiểu thêm
Ở Nam Kinh, chùa Tĩnh Hải, nơi hai bên từng gặp nhau trong quá trình đàm phán, nay là nhà trưng bày về điều ước. Ở Hổ Môn (Đông Quan, Quảng Đông) có bảo tàng về Lâm Tắc Từ và việc tiêu huỷ nha phiến. Sách nên đọc: The Opium War của Julia Lovell, kể từ cả phía Anh lẫn phía Trung Hoa; và các chương về thế kỷ 19 trong The Search for Modern China của Jonathan Spence.
Câu hỏi thường gặp
Điều ước Nam Kinh được ký năm nào?
Điều ước được ký ngày 29 tháng 8 năm 1842 trên chiến hạm Anh HMS Cornwallis ở sông Dương Tử gần Nam Kinh. Hai bên trao đổi phê chuẩn năm 1843 tại Hồng Kông.
Điều ước Nam Kinh có nội dung gì?
Nhà Thanh nhượng đảo Hồng Kông cho Anh, mở năm cảng Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải, bồi thường 21 triệu đồng bạc, bãi bỏ chế độ Công hành và đồng ý định thuế quan công khai. Hiệp ước có 13 điều.
Vì sao gọi là hiệp ước bất bình đẳng?
Vì nó được ký sau thất bại quân sự, áp đặt nghĩa vụ chủ yếu lên một bên, và cùng với hiệp ước bổ sung năm 1843 trao cho Anh quyền lãnh sự tài phán và tối huệ quốc mà nhà Thanh không được hưởng lại. Cụm từ này do đời sau đặt ra.
Điều ước Nam Kinh có cấm nha phiến không?
Không. Hiệp ước không cấm cũng không hợp pháp hoá nha phiến, chỉ buộc nhà Thanh trả 6 triệu đồng bạc cho số nha phiến đã bị Lâm Tắc Từ tiêu huỷ. Nha phiến chỉ được hợp pháp hoá sau Chiến tranh Nha phiến thứ hai.
Ai ký điều ước Nam Kinh?
Phía nhà Thanh là Kỳ Anh, Y Lý Bố và Ngưu Giám; phía Anh là toàn quyền Henry Pottinger. Hoàng đế Đạo Quang phê chuẩn sau đó.