Hiệp ước Nerchinsk là thoả thuận biên giới giữa nước Nga và nhà Thanh, ký năm 1689 tại Nerchinsk bên bờ sông Shilka (Siberia), theo đó Nga rút khỏi lưu vực sông Amur (Hắc Long Giang) và hai bên lấy sông Argun cùng dãy núi Stanovoy làm ranh giới. Đây là hiệp ước đầu tiên nhà Thanh ký với một cường quốc châu Âu, và đặc biệt ở chỗ hai bên ký trên tư thế ngang hàng, văn bản có hiệu lực là bản tiếng Latin do hai giáo sĩ Dòng Tên làm phiên dịch. Hiệp ước giữ yên vùng biên giới này gần 170 năm.
Hai đế quốc gặp nhau ở rìa thế giới
Trong thế kỷ 17, người Nga mở rộng rất nhanh về phía đông qua Siberia, chủ yếu do các nhóm Cossack và thợ săn lông thú dẫn đầu. Giữa thế kỷ, họ tới lưu vực Amur, dựng đồn Albazin và bắt dân bản địa nộp lông thú. Vùng này lại là nơi nhà Thanh coi là quê gốc phía bắc của người Mãn Châu và các tộc phụ thuộc.
Ở phía nhà Thanh, hoàng đế Khang Hy (trị vì 1661–1722) phải lo dẹp loạn Tam Phiên ở phương nam (1673–1681) và thu phục Đài Loan (1683) trước. Xong việc trong nước, ông quay sang phương bắc. Năm 1685, quân Thanh vây và phá đồn Albazin; người Nga quay lại dựng lại, và năm 1686 bị vây lần nữa. Đúng lúc ấy, Moskva gửi sứ thần sang đề nghị đàm phán.
Còn một mối lo lớn với Khang Hy: người Mông Cổ Chuẩn Cát Nhĩ (Dzungar) dưới quyền Galdan đang nổi lên ở phía tây bắc. Một liên minh Nga – Dzungar sẽ là cơn ác mộng. Ký hoà với Nga là cách cắt đứt khả năng đó.
Đoàn đàm phán: người Nga, người Mãn và hai giáo sĩ châu Âu
| Phía | Người dẫn đầu | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nga | Fyodor Golovin | Đại diện của triều đình Moskva thời hai Sa hoàng Ivan V và Pyotr I, cùng nhiếp chính Sofia |
| Nhà Thanh | Sách Ngạch Đồ (Songgotu) và Đồng Quốc Cương | Hai đại thần thân cận của Khang Hy, đi cùng lực lượng quân đội đông đảo |
| Phiên dịch | Jean-François Gerbillon (Pháp) và Tomás Pereira (Bồ Đào Nha) | Giáo sĩ Dòng Tên phục vụ triều Thanh, làm việc bằng tiếng Latin |
Đây là chi tiết thú vị nhất của Nerchinsk. Không bên nào biết tiếng của bên kia. Người Nga có phiên dịch tiếng Latin, nhà Thanh có hai giáo sĩ châu Âu thạo tiếng Latin và tiếng Mãn. Thế là một hiệp ước giữa Nga và Trung Hoa được thương lượng qua ngôn ngữ của Rôma. Nhật ký của Gerbillon và của Pereira còn lại, cho ta biết khá rõ diễn biến các phiên họp.
Đàm phán dưới bóng quân đội
Hội nghị diễn ra từ tháng 8 năm 1689. Phía Thanh tới Nerchinsk với lực lượng đông hơn hẳn đồn nhỏ của Nga, và hai bên dựng lều họp giữa hai doanh trại. Không ai giấu sức mạnh quân sự; nó là lá bài ngầm trên bàn.
Ban đầu yêu sách hai bên cách xa nhau: phía Nga muốn lấy sông Amur làm ranh giới, tức giữ cả bờ bắc; phía Thanh đòi lấn sâu về phía tây tới tận hồ Baikal. Theo nhật ký của các giáo sĩ, đã có lúc đàm phán suýt đổ vỡ, chính họ đi lại giữa hai trại để giữ cho cuộc nói chuyện không đứt. Cuối cùng hai bên gặp nhau ở giữa: Nga bỏ Amur, Thanh không đòi tới Baikal.
Hiệp ước được ký ngày 27 tháng 8 năm 1689 theo lịch Julius của Nga, tức ngày 7 tháng 9 theo lịch Gregory.
Nội dung chính của hiệp ước
- Đường biên giới. Ranh giới chạy theo sông Argun, sông Gorbitsa rồi theo dãy núi Stanovoy (người Thanh gọi là Ngoại Hưng An Lĩnh) tới biển. Đất phía nam dãy núi, tức lưu vực Amur, thuộc nhà Thanh.
- Vùng chưa phân định. Một khu vực giữa sông Uda và dãy núi được để lại "chưa định", hẹn bàn sau. Đó là cách gác lại phần khó nhất để ký được phần còn lại.
- Phá đồn Albazin. Người Nga rút đi và đồn bị phá bỏ.
- Người vượt biên. Những người chạy trốn sau khi ký sẽ bị trao trả; người đã sang trước đó thì giữ nguyên.
- Buôn bán. Người có giấy thông hành hợp lệ được qua lại buôn bán.
- Bia ranh giới. Hai bên dựng bia đá đánh dấu biên giới, khắc nhiều thứ chữ.
Hiệp ước có các bản tiếng Latin, tiếng Nga và tiếng Mãn; các bia đá thì khắc thêm chữ Hán và chữ Mông Cổ. Bản Latin là bản được hai bên ký và có giá trị pháp lý. Các bản bằng tiếng riêng không hoàn toàn trùng chữ với nhau, một điều thường gặp trong hiệp ước đa ngữ và về sau tạo cớ cho tranh luận.
Ai được, ai mất
Nhìn trên bản đồ, nhà Thanh giữ được lưu vực Amur, một vùng rộng lớn. Nhưng Nga cũng có cái lợi riêng:
- Thương mại. Nga có kênh buôn bán hợp pháp với Trung Hoa. Lông thú Siberia đổi lấy trà, lụa, vải bông là nguồn thu đáng kể. Về sau các đoàn buôn của nhà nước Nga tới Bắc Kinh đều đặn.
- Yên ổn phía đông. Pyotr I, khi nắm thực quyền, dồn sức cho phía tây và phía nam (Thuỵ Điển, Ottoman). Một biên giới đông yên ổn là thứ ông cần.
- Đối xử ngang hàng. Nhà Thanh thường xếp các nước ngoài vào khuôn triều cống. Ở Nerchinsk, hai bên đàm phán như hai quốc gia ngang hàng, một ngoại lệ đáng chú ý trong ngoại giao nhà Thanh.
Với Khang Hy, cái lợi lớn nhất là chiến lược: Nga không bắt tay với Galdan. Vài năm sau, năm 1696, Khang Hy thân chinh đánh bại Galdan. Hiệp ước biên giới ở phía bắc đã gỡ một mặt trận cho nhà Thanh ở phía tây.
Gần 170 năm hiệu lực rồi bị thay thế
Nerchinsk được bổ sung bằng hiệp ước Kyakhta năm 1727, phân định biên giới ở vùng Mông Cổ và quy định buôn bán tại thị trấn Kyakhta. Trật tự này kéo dài tới giữa thế kỷ 19. Khi nhà Thanh suy yếu vì các cuộc chiến với Anh, Pháp và nội loạn, Nga dùng hiệp ước Aigun (1858) và hiệp ước Bắc Kinh (1860) để lấy bờ bắc sông Amur và vùng ven biển phía đông sông Ussuri. Ranh giới Nerchinsk từ đó chỉ còn là chuyện lịch sử.
Điều này cho thấy một quy luật cũ: biên giới thường phản ánh cán cân sức mạnh ở thời điểm ký. Khi cán cân đổi, các bên sẽ tìm cách viết lại.
Bài học về đàm phán từ Nerchinsk
- Người trung gian biết cả hai thế giới có giá trị lớn. Hai giáo sĩ Dòng Tên vừa phiên dịch vừa làm người giữ cho cuộc nói chuyện không đổ.
- Gác phần khó lại. Để một vùng "chưa định" giúp ký được phần chính thay vì kẹt cả hiệp ước.
- Nhìn mặt trận khác. Khang Hy chấp nhận điều kiện mềm hơn yêu sách ban đầu vì ông lo Galdan hơn lo vài trăm dặm đất ở phía bắc.
- Ngôn ngữ chung quan trọng. Chọn bản Latin làm bản có giá trị là cách tránh tranh cãi bản tiếng ai đúng hơn.
Muốn tìm hiểu thêm
Nhật ký của Tomás Pereira đã được Joseph Sebes dịch và chú giải trong cuốn The Jesuits and the Sino-Russian Treaty of Nerchinsk (1689), nguồn tốt nhất để đọc diễn biến đàm phán. Về bối cảnh lớn, có thể đọc China Marches West của Peter Perdue, nói về cuộc tranh giành giữa nhà Thanh, Nga và người Dzungar ở Trung Á. Thị trấn Nerchinsk ngày nay thuộc vùng Zabaykalsky của Nga, có bảo tàng địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Hiệp ước Nerchinsk ký năm nào?
Hiệp ước được ký năm 1689, ngày 27 tháng 8 theo lịch Julius mà nước Nga dùng khi đó, tương ứng ngày 7 tháng 9 theo lịch Gregory. Nơi ký là Nerchinsk, bên sông Shilka ở Siberia.
Hiệp ước Nerchinsk quy định biên giới thế nào?
Biên giới chạy theo sông Argun, sông Gorbitsa và dãy núi Stanovoy tới biển. Lưu vực sông Amur thuộc nhà Thanh, người Nga rút khỏi và phá đồn Albazin. Một khu vực gần sông Uda được để lại chưa phân định.
Vì sao hiệp ước Nerchinsk viết bằng tiếng Latin?
Vì hai bên không có người thạo tiếng của nhau. Nhà Thanh dùng hai giáo sĩ Dòng Tên là Gerbillon và Pereira làm phiên dịch, người Nga cũng có phiên dịch tiếng Latin, nên bản Latin trở thành bản có giá trị chung.
Hiệp ước Nerchinsk có phải hiệp ước bất bình đẳng không?
Không. Đây được coi là hiệp ước ký trên tư thế ngang hàng, phía nhà Thanh còn có lợi thế quân sự tại chỗ. Các hiệp ước bất lợi cho nhà Thanh với Nga là Aigun năm 1858 và Bắc Kinh năm 1860.
Hiệp ước Nerchinsk còn hiệu lực đến khi nào?
Ranh giới Nerchinsk được giữ tới giữa thế kỷ 19, có bổ sung bằng hiệp ước Kyakhta năm 1727. Năm 1858 và 1860, các hiệp ước Aigun và Bắc Kinh đã vẽ lại biên giới, chuyển bờ bắc sông Amur cho Nga.