Quyền LựcWiki
Tìm
Sứ thần & ngoại giao xưa

Thông sự và thơ bang giao: nghề phiên dịch và bút đàm của sứ thần xưa

Thông sự là người phiên dịch nói trong sứ đoàn xưa; thơ bang giao là thơ chữ Hán sứ thần xướng hoạ. Nhờ chung chữ Hán, sứ thần các nước bút đàm không cần người dịch.

Thông sự và thơ bang giao: nghề phiên dịch và bút đàm của sứ thần xưa

Thông sự là người làm phiên dịch nói trong các sứ đoàn và ở cửa khẩu thời xưa; thơ bang giao là thơ chữ Hán mà sứ thần các nước làm tặng, xướng hoạ với nhau và với quan lại nước chủ nhà. Hai thứ này là hai kênh song song của ngoại giao Đông Á: lời nói cần người dịch, còn chữ viết thì dùng chung được, nên các sứ thần Việt, Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Lưu Cầu có thể "nói chuyện" với nhau bằng bút mà không cần thông sự. Hiểu hai kênh này là hiểu người xưa giao tiếp thế nào giữa những ngôn ngữ không ai nghe được của ai.

Một vùng chung chữ, khác tiếng

Trong nhiều thế kỷ, chữ Hán là văn tự chung của giới có học ở Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và Lưu Cầu. Nhưng mỗi nơi đọc chữ theo âm riêng: cùng một câu thơ, người Việt đọc âm Hán Việt, người Triều Tiên đọc âm Hán Hàn, người Nhật đọc theo lối riêng, người Trung Hoa đọc theo phương ngữ của mình. Hai người có thể cùng viết một câu và hiểu nhau hoàn toàn, nhưng nói ra thì không ai hiểu ai.

Từ đó sinh ra một hiện tượng đặc biệt của Đông Á: bút đàm, tức trò chuyện bằng cách viết chữ lên giấy. Sứ thần ngồi cạnh nhau, thay nhau viết, đọc, viết tiếp. Nhiều tờ bút đàm còn được giữ lại và chép vào sách.

Thông sự: những người ít được nhắc tên

Thông sự làm gì

Bút đàm đủ cho trò chuyện giữa các nhà nho, nhưng không đủ cho mọi việc của một sứ đoàn: hỏi đường, mua bán, giao nhận lễ vật, xử lý sự cố, nghe quan lại địa phương dặn dò. Vì thế sứ đoàn nào cũng có thông sự, những người nói được tiếng của nước chủ nhà. Ở biên giới Việt – Trung, các trấn như Lạng Sơn cũng có người chuyên làm việc này, vì hằng ngày có giao thiệp với quan lại và dân bên kia.

Thông sự là ai

Thông sự thường không phải là nhà nho đỗ đạt. Họ có thể là người vùng biên, người gốc Hoa định cư ở Việt Nam, hoặc người được học tiếng từ nhỏ. Địa vị của họ thấp hơn sứ thần nhiều, tên tuổi hiếm khi được ghi trong sử. Nhưng trong thực tế, một thông sự giỏi hay kém có thể làm một việc trôi chảy hay rắc rối. Các nhật ký đi sứ đôi khi ghi lại những lần sứ đoàn gặp khó vì lời dịch, hoặc nhờ thông sự mà gỡ được việc.

Phía Trung Hoa: những cơ quan dịch thuật

Triều đình phương Bắc có các cơ quan chuyên trách. Thời Minh có Hội đồng quán, nơi đón tiếp và lưu trú của sứ thần các nước, kèm một bộ phận thông sự; và Tứ Di quán, lập năm 1407, chuyên dịch văn thư của các dân tộc và nước ngoài, đào tạo người học các thứ tiếng ấy. Nhà Thanh tiếp tục các cơ quan tương tự dưới những tên gọi khác.

Một sản phẩm thú vị của hệ thống này là bộ sách từ vựng song ngữ gọi chung là Hoa Di dịch ngữ, trong đó có phần An Nam dịch ngữ: danh sách từ tiếng Việt ghi bằng chữ Hán để phiên âm, kèm nghĩa. Đây là tài liệu quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng Việt thời trung đại, vì nó cho biết người Việt cách đây vài trăm năm phát âm một số từ ra sao. Học giả Trần Kinh Hoà (Chen Ching-ho) và Vương Lộc đã có những công trình nghiên cứu về văn bản này.

Thơ bang giao: khi thơ là ngôn ngữ ngoại giao

Vì sao lại là thơ

Trong truyền thống Nho học, thơ không chỉ là văn chương mà là cách thể hiện học vấn, nhân cách và văn hiến của một nước. Khổng Tử từng nói, theo Luận ngữ, rằng không học Kinh Thi thì không lấy gì để nói; và rằng một người thuộc ba trăm bài thơ mà được sai đi sứ bốn phương lại không tự mình ứng đối được thì học nhiều cũng chẳng để làm gì. Câu này trực tiếp nối thơ với việc đi sứ.

Tên gọi quen thuộc của thơ đi sứ là "Hoàng hoa", lấy từ bài "Hoàng hoàng giả hoa" trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, bài thơ về người sứ thần rong ruổi trên đường. Nhiều tập thơ đi sứ của người Việt có chữ "hoa trình" hay "hoàng hoa" trong tên.

Xướng hoạ: một cuộc đối thoại có luật

Xướng hoạ là khi một người làm bài thơ "xướng", người kia làm bài "hoạ" đáp lại, thường phải dùng cùng vần, có khi dùng đúng những chữ vần của bài xướng. Luật chặt khiến xướng hoạ trở thành một cuộc so tài ngầm: ai hoạ nhanh, hoạ khéo, đưa được ý của mình vào khuôn vần của người kia là người thắng.

Qua thơ, sứ thần có thể nói những điều khó nói thẳng: ca ngợi văn hiến nước mình, khéo léo đáp lại lời khinh thường, bày tỏ tình bạn với sứ thần nước khác. Nhiều bài thơ của sứ thần Việt ở Bắc Kinh mô tả lịch sử, phong tục, cảnh vật nước Nam, như một cách giới thiệu đất nước với người ngoài.

Những cuộc gặp gỡ được ghi lại

NămSứ thần ViệtNgười gặpHình thức
1597Phùng Khắc KhoanSứ thần Triều Tiên Lý Tối Quang (Yi Su-gwang)Xướng hoạ thơ, bút đàm về phong tục, học thuật; được ghi ở cả hai phía
1760–1762Lê Quý ĐônSứ thần Triều Tiên, văn nhân nhà ThanhBút đàm, trao đổi sách, xin đề tựa
1790Sứ bộ Tây Sơn (Phan Huy Ích và các sứ thần)Sứ thần Triều Tiên dự lễ thọ vua Càn LongXướng hoạ thơ
Thế kỷ 19Nhiều sứ thần triều NguyễnQuan lại, văn nhân nhà Thanh; sứ thần Triều Tiên, Lưu CầuThơ tặng, bút đàm

Không chỉ ở phương Bắc. Năm 1601, Nguyễn Hoàng ở Đàng Trong gửi thư cho Tokugawa Ieyasu ở Nhật Bản, mở đầu quan hệ thư từ giữa hai bên; thư được viết bằng chữ Hán, hai bên hiểu nhau qua văn tự chung dù không ai biết tiếng của ai. Các thư từ ấy còn được chép lại trong các tập văn thư ngoại giao của Nhật Bản.

Khi phiên dịch chuyển sang tiếng phương Tây

Từ thế kỷ 17, giáo sĩ và thương nhân châu Âu tới Việt Nam đặt ra một nhu cầu mới: phiên dịch giữa tiếng Việt và các tiếng Bồ Đào Nha, Pháp, Latin, Anh. Ở đây chữ Hán không còn dùng chung được. Các giáo sĩ học tiếng Việt và dần dựng nên lối ghi tiếng Việt bằng chữ Latin; cuốn từ điển Việt – Bồ – Latin của Alexandre de Rhodes in năm 1651 là cột mốc.

Dưới triều Nguyễn, triều đình có dùng người biết tiếng Tây làm thông ngôn khi giao thiệp với tàu Anh, Pháp, Mỹ ghé cảng. Đến giữa thế kỷ 19, những người như Trương Vĩnh Ký, thạo nhiều thứ tiếng nhờ học ở các chủng viện tại Đông Nam Á, trở thành cầu nối quan trọng; ông có mặt trong sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1863. Nghề thông ngôn lúc này mang thêm một sức nặng chính trị mới: người phiên dịch đứng giữa hai bên có sức mạnh chênh lệch lớn, và lòng tin vào lời dịch trở thành một vấn đề.

Quyền lực của người đứng giữa

  • Người phiên dịch kiểm soát dòng thông tin. Một lời dịch có thể làm dịu hoặc làm gắt một câu nói. Vì thế các triều đình đều muốn có người dịch của chính mình.
  • Bút đàm loại bỏ trung gian. Khi hai sứ thần viết được cùng một thứ chữ, họ nói chuyện trực tiếp, không qua ai. Đó là lợi thế lớn của vùng văn hoá chữ Hán.
  • Thơ là vũ khí mềm. Một bài hoạ khéo có thể làm thay đổi cách một quan lại phương Bắc nhìn cả một nước.
  • Người làm việc thầm lặng cũng quan trọng. Tên các thông sự ít được ghi, nhưng không có họ thì sứ đoàn không đi nổi một ngày đường.

Muốn tìm hiểu thêm

Bộ Việt Nam Hán văn yến hành văn hiến tập thành (2010), do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Đại học Phục Đán phối hợp biên soạn, tập hợp hơn bảy mươi tác phẩm thơ văn đi sứ của người Việt, là nguồn lớn nhất để đọc thơ bang giao. Bản An Nam dịch ngữ đã được Vương Lộc khảo cứu và giới thiệu bằng tiếng Việt. Ở Hà Nội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ nhiều bản chép tay các tập thơ đi sứ; Văn Miếu – Quốc Tử Giám có bia tiến sĩ của nhiều người từng làm sứ thần.

Câu hỏi thường gặp

Thông sự là gì?

Thông sự là người làm phiên dịch nói trong các sứ đoàn và ở cửa khẩu thời xưa. Họ giúp sứ đoàn giao tiếp hằng ngày với quan lại và dân nước chủ nhà, trong khi các sứ thần dùng chữ Hán để trao đổi bằng văn viết.

Bút đàm là gì?

Bút đàm là cách trò chuyện bằng cách viết chữ Hán lên giấy, dùng khi hai người không nói được tiếng của nhau nhưng cùng đọc được chữ Hán. Sứ thần Việt, Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản thường bút đàm với nhau.

Thơ bang giao là gì?

Thơ bang giao là thơ chữ Hán do sứ thần làm trong các chuyến đi sứ, để tặng, xướng hoạ với quan lại nước chủ nhà và sứ thần nước khác. Thơ là cách thể hiện học vấn và văn hiến của một nước trong ngoại giao thời xưa.

An Nam dịch ngữ là gì?

An Nam dịch ngữ là một bộ từ vựng Việt – Hán do cơ quan phiên dịch của triều đình nhà Minh biên soạn, ghi từ tiếng Việt bằng chữ Hán phiên âm kèm nghĩa. Đây là tài liệu quý để nghiên cứu cách phát âm tiếng Việt thời trung đại.

Vì sao sứ thần xưa phải giỏi làm thơ?

Vì trong truyền thống Nho học Đông Á, thơ là thước đo học vấn và văn hiến. Sứ thần làm thơ hay, hoạ thơ khéo thì nước mình được nể trọng; Khổng Tử cũng từng nối việc học Kinh Thi với khả năng ứng đối khi đi sứ.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác