Quyền LựcWiki
Tìm
Tư tưởng về quyền lực

Thương Ưởng biến pháp: cuộc cải cách biến nước Tần thành cường quốc

Thương Ưởng cải cách nước Tần năm 356 và 350 TCN: liên đới chịu tội, tước theo công trận, trọng nông, lập huyện, thống nhất đo lường, rồi chết dưới luật mình đặt.

Thương Ưởng biến pháp: cuộc cải cách biến nước Tần thành cường quốc

Thương Ưởng biến pháp là cuộc cải cách do Thương Ưởng (Vệ Ưởng, khoảng 390–338 TCN) tiến hành ở nước Tần dưới thời Tần Hiếu công, qua hai đợt chính năm 356 và 350 TCN. Ông lập chế độ liên đới chịu tội, thưởng tước theo công trận, đề cao nông nghiệp, lập đơn vị hành chính trực thuộc vua và thống nhất đo lường. Cải cách biến Tần từ một nước biên viễn bị coi thường thành cường quốc, nhưng chính ông chết thảm dưới luật mình đặt ra.

Người nước Vệ đi tìm đất dụng võ

Theo "Thương quân liệt truyện" trong Sử ký, Ưởng là con thiếp của một vương tộc nước Vệ, họ Công Tôn, nên còn gọi là Công Tôn Ưởng hay Vệ Ưởng. Thời trẻ ông thích học hình danh, làm gia thần cho tướng quốc nước Ngụy là Công Thúc Toạ. Công Thúc Toạ lúc lâm bệnh khuyên vua Ngụy Huệ vương: nếu không dùng Ưởng thì phải giết, đừng để ông ra khỏi biên giới. Vua Ngụy cho là lời người ốm lẩm cẩm, không dùng mà cũng không giết.

Năm 361 TCN, Tần Hiếu công mới lên ngôi, ra lệnh cầu người tài với lời hứa chia đất cho ai làm Tần mạnh lên. Ưởng sang Tần, nhờ hoạn quan Cảnh Giám tiến dẫn. Sử ký kể ông lần lượt nói với vua về đế đạo, vương đạo, rồi bá đạo; vua nghe hai lần đầu thì ngủ gật, đến khi ông nói về cách làm nước mạnh nhanh thì vua ngồi nhích lại gần lúc nào không biết, nghe mấy ngày không chán.

Cuộc tranh luận trước triều

Trước khi ban hành luật mới, Hiếu công cho Ưởng tranh luận với hai đại thần Cam Long và Đỗ Chí. Phe cũ cho rằng theo phép xưa thì không lỗi, theo lễ cũ thì không sai. Ưởng đáp rằng trị đời không phải chỉ có một con đường, lợi cho nước thì không cần bắt chước xưa; Thang và Vũ không theo phép cũ mà vẫn làm vua, Kiệt và Trụ không đổi lễ mà vẫn mất nước. Cuộc tranh luận được chép trong Sử ký và thiên "Canh pháp" của Thương quân thư, nay thường được coi là văn bản kinh điển của tư tưởng cải cách.

Dựng gỗ lấy lòng tin

Luật soạn xong nhưng chưa công bố, vì Ưởng lo dân không tin. Ông cho dựng một cây gỗ dài ba trượng ở cửa nam chợ kinh đô, hứa ai dời được sang cửa bắc sẽ thưởng mười lượng vàng. Không ai dám. Ông tăng lên năm mươi lượng. Có một người thử dời, và được trả đủ năm mươi lượng. Sau đó luật mới được ban ra.

Câu chuyện "dựng gỗ lấy lòng tin" (lập mộc thủ tín) có ý nghĩa ngược với vẻ ngoài của nó. Ưởng không xây lòng tin bằng đạo đức mà bằng tính chắc chắn: nhà nước nói gì làm nấy, thưởng là thưởng thật, thì phạt cũng sẽ là phạt thật.

Nội dung hai đợt biến pháp

Lĩnh vựcBiện phápMục đích
Hộ tịch, an ninhChia dân thành nhóm năm nhà, mười nhà, liên đới chịu tội; tố giác kẻ gian được thưởng như chém đầu giặc, che giấu bị chém ngang lưngBiến mỗi người dân thành tai mắt của nhà nước
Gia đìnhNhà có hai con trai trở lên không ra ở riêng thì đóng thuế gấp đôiTăng số hộ đóng thuế, khai hoang thêm đất
Tước vịThứ bậc tước dựa trên công trận; tông thất không có quân công thì không được ghi vào sổ tông tộcPhá thế quý tộc cha truyền con nối, mở đường thăng tiến cho dân thường
Kinh tếThưởng người làm ruộng dệt vải nộp nhiều thóc lụa; kẻ bỏ gốc theo ngọn (buôn bán) và lười nhác thì bắt làm nôDồn sức dân vào hai việc nông và chiến
Hành chính (đợt 2)Dời đô về Hàm Dương; gộp làng xóm thành các huyện do quan vua bổ nhiệm (Sử ký chép 31 huyện)Rút quyền khỏi tay quý tộc địa phương
Ruộng đất (đợt 2)Phá bờ ruộng cũ, mở lại đường ranh (khai thiên mạch), cho phép mua bán ruộng, đánh thuế theo đấtTăng sản lượng và nguồn thu
Đo lường (đợt 2)Thống nhất đấu, thùng, cân, thướcThu thuế công bằng, chống gian lận

Một bằng chứng hiện vật còn lại là chiếc "đấu vuông Thương Ưởng", dụng cụ đo dung tích bằng đồng có khắc chữ ghi năm thứ 18 đời Tần Hiếu công (khoảng 344 TCN), hiện lưu ở Bảo tàng Thượng Hải. Hơn một thế kỷ sau, khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đo lường toàn thiên hạ, chuẩn đo của Tần cũ được lấy làm gốc.

Luật áp cả lên thái tử

Luật mới gặp phản ứng, có cả nghìn người đến kinh đô kêu luật bất tiện. Rồi thái tử phạm luật. Ưởng nói luật không thi hành được là vì người trên vi phạm trước. Thái tử là người sẽ nối ngôi nên không thể phạt, ông phạt thay thầy dạy là công tử Kiền và thích chữ vào mặt thầy học là Công Tôn Giả. Sử ký chép từ đó người Tần đều tuân luật. Mười năm sau, theo Tư Mã Thiên, ngoài đường không ai nhặt của rơi, núi không có trộm cướp, dân dũng cảm trong việc công và nhút nhát trong việc tư.

Những người từng chê luật bất tiện, nay quay sang khen luật hay. Ưởng gọi họ là kẻ làm loạn giáo hoá, đày hết ra biên giới. Sau đó không ai dám bàn về luật nữa. Chi tiết này cho thấy bản chất cải cách: điều luật cần không phải sự đồng tình mà là sự im lặng tuân theo.

Tư tưởng trong Thương quân thư

Thương quân thư là sách gắn với tên ông, hiện còn 24 thiên. Giới nghiên cứu cho rằng phần lớn do môn đệ và người đời sau soạn, vì có thiên nhắc tới việc xảy ra sau khi ông mất. Dù vậy, sách phản ánh khá nhất quán tư tưởng của trường phái:

  • Nhất giáo: chỉ có một con đường được vinh hiển là nông và chiến; mọi đường khác (học vấn, buôn bán, du thuyết) phải bị lấp.
  • Nhược dân: thiên "Nhược dân" viết dân yếu thì nước mạnh, dân mạnh thì nước yếu. Dân ở đây là dân có của riêng, có chỗ dựa ngoài nhà nước.
  • Trọng hình: phạt nặng cả tội nhẹ thì tội nặng không dám phạm, gọi là "dùng hình để bỏ hình".
  • Sách gọi Nho học, lễ nhạc, nhân nghĩa, hiếu đễ… là những thứ gây hại như sâu mọt.

Đặt luật tự hại mình

Ưởng được phong mười lăm ấp ở đất Thương, nên gọi là Thương quân. Một người tên Triệu Lương khuyên ông trả đất lui về, vì ông làm nhiều người oán, ra đường phải có xe giáp hộ tống, nguy như trứng chồng. Ông không nghe.

Năm 338 TCN, Hiếu công mất, thái tử năm xưa lên ngôi tức Tần Huệ văn vương. Công tử Kiền cùng đồng đảng tố Thương Ưởng mưu phản. Ông bỏ trốn, tới một quán trọ ở biên giới xin nghỉ. Chủ quán không biết ông là ai, từ chối vì luật của Thương quân cấm chứa khách không có giấy tờ, chứa thì cùng chịu tội. Ưởng than rằng cái hại của việc đặt luật lại đến mức này. Thành ngữ "tác pháp tự tễ" (đặt luật tự trói mình) có từ đây. Ông bị bắt, bị xé xác bằng xe, cả nhà bị giết.

Điều đáng chú ý: vua mới giết người làm luật nhưng giữ nguyên luật. Bộ máy Thương Ưởng dựng nên tiếp tục vận hành, và hơn một thế kỷ sau giúp Tần thống nhất các nước.

Đánh giá: thành công nào, cái giá nào

Tư Mã Thiên chép công lao của ông nhưng nhận xét Thương Ưởng bản tính khắc bạc, ít ân nghĩa, và tiếng xấu ấy là đáng. Các nhà Nho đời sau coi ông là thủ phạm làm Tần tàn bạo rồi mất nước. Một số nhà cải cách cận đại ở Trung Hoa lại đề cao ông như người dám phá lệ cũ để làm nước mạnh.

Nhìn bình thản hơn, cải cách của ông chứng minh rằng một nhà nước có thể huy động sức dân mạnh hơn hẳn đối thủ nếu nắm được hộ tịch, ruộng đất và đường thăng tiến. Nhưng nó cũng cho thấy cái giá: một xã hội ai cũng tố giác nhau, chỉ có một con đường đi lên, và người dân bị coi là nguồn lực chứ không phải mục đích.

Góc nhìn hôm nay

Câu chuyện Thương Ưởng để lại vài bài học dễ dùng. Lòng tin vào luật đến từ sự nhất quán, không từ lời hứa. Luật nghiêm mà chỉ chĩa xuống dưới thì không đứng được; phải chạm tới người trên. Và người dựng một bộ máy chỉ dựa vào sợ hãi thì khi mất chỗ dựa sẽ không còn ai bảo vệ mình. Muốn đọc thêm: "Thương quân liệt truyện" trong Sử ký có bản dịch tiếng Việt của Nhữ Thành (Phan Ngọc), và bản dịch Thương quân thư nếu tìm được.

Câu hỏi thường gặp

Thương Ưởng biến pháp năm nào?

Thương Ưởng sang Tần năm 361 TCN. Đợt biến pháp thứ nhất thường được ghi năm 356 TCN, đợt thứ hai năm 350 TCN. Một số tài liệu tính mốc sớm hơn vài năm do cách đọc niên biểu khác nhau.

Lập mộc thủ tín là gì?

Đó là chuyện Thương Ưởng dựng cây gỗ ở cửa nam chợ, hứa thưởng cho ai dời được sang cửa bắc. Khi có người dời, ông trả đủ năm mươi lượng vàng để dân tin rằng lệnh của nhà nước là thật. Sau đó luật mới được ban ra.

Vì sao Thương Ưởng bị giết?

Ông gây oán với nhiều quý tộc, trong đó có thầy của thái tử bị ông phạt. Khi Tần Hiếu công mất và thái tử lên ngôi, ông bị tố mưu phản, bỏ trốn không thành và bị xé xác bằng xe năm 338 TCN. Tuy vậy luật của ông vẫn được giữ.

Tác pháp tự tễ nghĩa là gì?

Nghĩa là đặt luật rồi chính mình bị luật ấy hại. Thành ngữ bắt nguồn từ chuyện Thương Ưởng chạy trốn bị chủ quán từ chối cho trọ vì luật của ông cấm chứa khách không có giấy tờ.

Thương quân thư có phải do Thương Ưởng viết không?

Sách mang tên ông nhưng giới nghiên cứu cho rằng phần lớn do môn đệ và người đời sau soạn, vì có thiên nhắc tới sự kiện xảy ra sau khi ông mất. Sách vẫn được coi là nguồn chính để hiểu tư tưởng Pháp gia thời kỳ đầu.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác