Quyền LựcWiki
Tìm
Tư tưởng về quyền lực

Hàn Phi Tử là gì: học thuyết pháp, thuật và thế của Pháp gia

Hàn Phi tổng hợp Pháp gia thành ba trụ cột: pháp là luật công khai, thuật là cách vua kiểm soát quan lại, thế là uy quyền gắn với ngôi vị chứ không với tài đức.

Hàn Phi Tử là gì: học thuyết pháp, thuật và thế của Pháp gia

Hàn Phi Tử là học thuyết của Hàn Phi (khoảng 280–233 TCN), người tổng hợp trường phái Pháp gia thời Chiến Quốc thành ba trụ cột: pháp (luật thành văn, công khai, áp dụng cho mọi người), thuật (cách vua kiểm soát bề tôi mà không để lộ ý mình) và thế (địa vị, uy quyền gắn với ngôi vua chứ không với tài đức của người ngồi). Theo Hàn Phi, vua tài trung bình mà nắm đủ ba thứ ấy vẫn trị được nước, không cần chờ thánh nhân ra đời.

Hàn Phi là ai

Theo "Lão Tử Hàn Phi liệt truyện" trong Sử ký của Tư Mã Thiên, Hàn Phi là công tử nước Hàn, một nước nhỏ yếu kẹp giữa các cường quốc. Ông nói lắp, không giỏi biện luận nhưng viết rất sắc. Ông cùng Lý Tư theo học Tuân Tử, nhà Nho chủ trương bản tính con người vốn ác. Lý Tư tự nhận mình không bằng Hàn Phi.

Hàn Phi nhiều lần dâng thư can vua Hàn nhưng không được dùng. Ông viết các thiên "Cô phẫn", "Ngũ đố", "Thuyết nan"… Tư Mã Thiên chép rằng khi vua Tần (sau này là Tần Thuỷ Hoàng) đọc được hai thiên "Cô phẫn" và "Ngũ đố", đã than rằng nếu được gặp người này mà kết giao thì chết cũng không hận. Năm 233 TCN, Hàn Phi sang Tần làm sứ. Lý Tư và Diêu Giả gièm rằng ông là người nước Hàn, rốt cuộc sẽ vì Hàn chứ không vì Tần. Ông bị hạ ngục, Lý Tư sai người đưa thuốc độc bắt tự tử. Vua Tần hối hận cho người đến tha thì Hàn Phi đã chết.

Tư Mã Thiên kết bằng một nhận xét đau xót: Hàn Phi viết thiên "Thuyết nan" phân tích kỹ cái khó của việc thuyết phục vua, mà bản thân lại không thoát được.

Sách Hàn Phi Tử

Sách hiện còn 55 thiên. Không phải thiên nào cũng chắc chắn do Hàn Phi viết; giới nghiên cứu cho rằng một số thiên do học trò hoặc người đời sau thêm vào. Lối viết đặc trưng là lý lẽ chặt kèm rất nhiều ngụ ngôn, nhiều câu chuyện nay đã thành thành ngữ trong tiếng Việt.

  • Mâu thuẫn: người nước Sở bán giáo và khiên, khoe giáo đâm thủng mọi khiên, khiên đỡ được mọi giáo. Có người hỏi lấy giáo của anh đâm khiên của anh thì sao, anh ta cứng họng.
  • Ôm cây đợi thỏ (thủ chu đãi thố): người nước Tống thấy thỏ đâm vào gốc cây chết, bèn bỏ cày ngồi chờ thỏ khác. Hàn Phi dùng chuyện này chế giễu những ai muốn lấy cách trị nước của tiên vương áp vào thời nay.
  • Vảy ngược (nghịch lân): con rồng có thể vuốt ve, nhưng dưới cổ có miếng vảy mọc ngược, ai chạm vào ắt bị giết. Vua cũng có vảy ngược; người thuyết phục phải biết tránh.

Ba trụ cột: pháp, thuật, thế

Hàn Phi không phát minh ba khái niệm này. Ông gom chúng từ ba người đi trước rồi lập luận rằng thiếu một thứ là hỏng.

Khái niệmNgười đi trướcNội dungHàn Phi phê bình
PhápThương Ưởng (nước Tần)Luật viết rõ, công bố cho dân, thưởng phạt nghiêmCó pháp mà không có thuật thì quan lại lợi dụng pháp để làm giàu cho mình
ThuậtThân Bất Hại (nước Hàn)Kỹ thuật vua kiểm tra quan: giao việc theo chức danh, xét kết quả có khớp lời hứa khôngCó thuật mà luật cũ luật mới chồng chéo thì kẻ gian chọn luật có lợi cho mình
ThếThận ĐáoQuyền thế gắn với vị trí: rồng bay được nhờ mây, mất mây thì như giun dếThế phải đi cùng pháp, nếu không thì kẻ bạo ngồi ngôi cũng dùng thế để làm loạn

Pháp phải công khai, ai cũng biết. Thuật thì ngược lại, phải giấu trong lòng vua. Đây là điểm làm Hàn Phi khác hẳn các nhà tư tưởng chỉ nói về luật: ông thấy rằng mối đe doạ lớn nhất của vua không phải dân mà là chính những người đứng gần ngai.

Nhị bính: hai cái cán của quyền lực

Thiên "Nhị bính" viết rằng vua cầm hai cái cán để điều khiển bề tôi: hình (trừng phạt) và đức (ban thưởng). Vua nào để bề tôi nắm quyền thưởng phạt thì dân sẽ sợ bề tôi mà coi nhẹ vua, như con hổ bị lấy mất nanh vuốt.

Thiên này có câu chuyện nổi tiếng về vua Hàn Chiêu hầu. Vua say rượu ngủ, người giữ mũ thấy vua lạnh liền lấy áo đắp. Vua tỉnh dậy, hỏi ai đắp áo, rồi phạt cả người giữ áo vì bỏ phận sự, lẫn người giữ mũ vì làm việc ngoài chức phận. Với Hàn Phi, vượt chức nguy hiểm không kém bỏ chức, vì nếu ai cũng tự ý làm việc người khác thì vua không còn đo được ai làm gì. Nguyên tắc ông gọi là hình danh tham đồng: so lời hứa (danh) với việc làm thật (hình), khớp thì thưởng, lệch thì phạt, kể cả lệch theo hướng làm nhiều hơn.

Nhìn con người qua lăng kính lợi ích

Hàn Phi kế thừa quan niệm tính ác của thầy Tuân Tử nhưng đi xa hơn: ông không tin giáo hoá sửa được người, chỉ tin vào lợi hại. Thiên "Bị nội" có ví dụ người đóng xe mong thiên hạ giàu sang, người đóng quan tài mong thiên hạ chết sớm, không phải vì người đóng xe tốt bụng hơn mà vì lợi của mỗi người nằm ở đó.

Từ đó ông đưa ra một nhận xét lạnh người: vợ và con của vua cũng có lợi ích riêng. Hoàng hậu già đi lo mất sủng, thái tử nóng lòng lên ngôi, nên có người mong vua chết sớm. Vua tin ai thì bị người đó chế ngự. Thiên "Bát gian" liệt kê tám đường mà bề tôi dùng để lấn quyền vua, từ người chung giường, người hầu cận, họ hàng, cho đến việc lấy lòng dân bằng của công.

Ngũ đố: năm loại sâu mọt

Thiên "Ngũ đố" gọi năm hạng người là sâu mọt của nước: học giả theo lối Nho ca ngợi tiên vương, thuyết khách dựa thế nước ngoài, du hiệp đeo kiếm coi thường lệnh cấm, người nương cửa quyền quý để trốn binh dịch, và thương nhân thợ thủ công làm hàng xa xỉ. Chỉ nông dân và binh sĩ là có ích. Ông cũng lập luận rằng đời xưa người ít của nhiều nên không tranh, đời nay người đông của ít nên phải dùng pháp, đem đạo của tiên vương áp vào là ôm cây đợi thỏ.

Thành công và cái giá

Tư tưởng Pháp gia giúp nước Tần thống nhất thiên hạ năm 221 TCN, và chính Lý Tư, người bạn học đã hại Hàn Phi, làm thừa tướng thi hành nhiều chủ trương giống ông. Nhưng nhà Tần sụp đổ chỉ mười lăm năm sau. Các nhà Nho đời Hán coi đó là bằng chứng rằng chỉ dùng hình phạt và mưu thuật thì không giữ được lòng người.

Từ nhà Hán trở đi, Pháp gia bị chê công khai nhưng vẫn được dùng âm thầm. Người ta gọi lối cai trị đó là ngoài Nho trong Pháp: lời nói theo Nho, bộ máy luật và kiểm tra quan lại theo Pháp. Ở Đại Việt, các bộ luật như Quốc triều hình luật thời Lê cũng cho thấy sự pha trộn này.

Những điểm yếu của học thuyết thì rõ: nó coi mọi người là mối đe doạ, kể cả người thân của vua, nên tạo ra một người cai trị cô độc, đa nghi. Nó đặt vua trên luật: luật ràng buộc mọi người trừ người làm ra luật. Và nó gần như không có chỗ cho lương tri cá nhân.

Góc nhìn hôm nay

Hàn Phi đáng đọc không phải để làm ông vua đa nghi. Ông là một trong những người đầu tiên phân tích kỹ vấn đề người thừa hành: người được giao quyền có lợi ích riêng, và chỉ trông vào lòng tốt của họ là ngây thơ. Ý tưởng so lời hứa với kết quả, công bố luật rõ ràng, tách quyền thưởng phạt khỏi tay người có lợi ích, vẫn là những vấn đề mà mọi tổ chức phải giải.

Đọc ông cũng giúp nhận ra các thủ thuật quyền lực: ai đó cố nắm độc quyền thưởng phạt, cố cắt đường thông tin giữa cấp trên và cấp dưới, hay dùng người thân cận để lấn quyền. Muốn tìm hiểu thêm, có thể đọc bản dịch Hàn Phi Tử của Phan Ngọc, và đọc song song với Tuân Tử để thấy học trò đi khác thầy thế nào.

Câu hỏi thường gặp

Pháp, thuật, thế trong Hàn Phi Tử là gì?

Pháp là luật thành văn, công khai, thưởng phạt nghiêm. Thuật là cách vua kiểm soát quan lại, giấu trong lòng không cho ai biết. Thế là uy quyền gắn với ngôi vị. Hàn Phi cho rằng phải kết hợp đủ ba thì vua tài trung bình cũng trị được nước.

Hàn Phi chết như thế nào?

Theo Sử ký, năm 233 TCN Hàn Phi sang Tần làm sứ thì bị Lý Tư và Diêu Giả gièm là sẽ vì nước Hàn. Ông bị hạ ngục và bị ép uống thuốc độc. Khi vua Tần đổi ý muốn tha thì ông đã chết.

Hàn Phi và Thương Ưởng khác nhau thế nào?

Thương Ưởng là nhà cải cách thực hành pháp trị ở nước Tần thế kỷ 4 TCN, chú trọng luật và thưởng phạt. Hàn Phi sống sau gần một thế kỷ, là nhà lý thuyết tổng hợp, bổ sung thêm thuật và thế. Ông chê pháp của Thương Ưởng thiếu thuật nên quan lại vẫn lợi dụng được.

Thành ngữ nào xuất phát từ Hàn Phi Tử?

Nhiều thành ngữ quen thuộc lấy từ sách này: "mâu thuẫn" (chuyện người bán giáo và khiên), "ôm cây đợi thỏ" (thủ chu đãi thố) và "chạm vảy ngược" (nghịch lân). Ngoài ra chuyện ngọc họ Hoà cũng có nguồn từ đây.

Ngoài Nho trong Pháp nghĩa là gì?

Đây là cách các nhà nghiên cứu mô tả lối cai trị của các triều đại Trung Hoa từ nhà Hán trở đi: bề ngoài đề cao đạo đức Nho giáo, bên trong vẫn dùng bộ máy luật pháp và kiểm soát quan lại của Pháp gia. Nó cho thấy Pháp gia bị chê nhưng chưa bao giờ bị bỏ.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác