Quyền LựcWiki
Tìm
Hiệp ước làm nên lịch sử

Hoà ước Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Quý Mùi, Giáp Thân giữa triều Nguyễn và Pháp

Bốn hoà ước 1862, 1874, 1883, 1884 giữa triều Nguyễn và Pháp: mất ba tỉnh miền Đông, rồi trọn Nam Kỳ, tới chấp nhận bảo hộ. Tóm tắt điều khoản và người ký từng bản.

Hoà ước Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Quý Mùi, Giáp Thân giữa triều Nguyễn và Pháp

Từ năm 1862 tới năm 1884, triều Nguyễn ký với Pháp bốn hoà ước chính, gọi theo năm âm lịch: Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Quý Mùi (1883) và Giáp Thân (1884). Đi qua bốn văn bản này là thấy một tiến trình: từ mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tới mất trọn Nam Kỳ, rồi chấp nhận nền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi. Đọc kỹ từng điều khoản cho thấy quyền lực bị lấy đi không phải trong một lần mà từng phần, mỗi phần đều được ghi bằng chữ.

Bối cảnh: một triều đình bị kẹp giữa nhiều áp lực

Năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng ở Đà Nẵng, rồi chuyển vào Gia Định năm 1859. Sau khi đại đồn Chí Hoà thất thủ năm 1861, Pháp lần lượt chiếm Định Tường, Biên Hoà, Vĩnh Long. Cùng lúc ấy, vua Tự Đức phải đối phó với một cuộc nổi dậy lớn ở Bắc Kỳ do Tạ Văn Phụng cầm đầu, người tự xưng là dòng dõi nhà Lê. Các sử sách triều Nguyễn cho thấy triều đình coi việc giữ Bắc Kỳ là cấp bách, và muốn có hoà ở phía nam để rảnh tay ở phía bắc.

Đây là mấu chốt để hiểu hoà ước đầu tiên: một bên chịu sức ép trên hai mặt trận thường chấp nhận nhượng bộ ở mặt trận mà mình nghĩ có thể đòi lại sau.

Hoà ước Nhâm Tuất (5/6/1862)

Ký tại Sài Gòn. Phía triều Nguyễn là Phan Thanh Giản (chánh sứ) và Lâm Duy Hiệp (phó sứ, có sách chép Lâm Duy Thiếp); phía Pháp là thiếu tướng hải quân Bonard, phía Tây Ban Nha là đại tá Palanca. Hoà ước gồm 12 điều, các điểm chính:

  • Cắt đất: nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn.
  • Tôn giáo: cho giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo, dân được tự do theo đạo.
  • Thương mại: mở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho thương nhân Pháp, Tây Ban Nha.
  • Bồi thường: 4 triệu đồng bạc (piastre), trả trong 10 năm.
  • Nhượng đất cho nước khác: triều Nguyễn không được nhượng đất cho nước nào khác nếu Pháp không đồng ý.
  • Thành Vĩnh Long: Pháp sẽ trả lại khi triều đình chấm dứt việc hậu thuẫn kháng chiến ở ba tỉnh đã nhượng.

Hoà ước được phê chuẩn ở Huế năm 1863. Ngay sau đó, triều đình cử Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh (chuyện của chuyến đi sứ này được kể ở một bài riêng). Năm 1864 đã có một bản dự thảo hoà ước mới theo hướng ấy, nhưng Paris không phê chuẩn. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; Phan Thanh Giản, khi đó làm Kinh lược sứ, giao thành để tránh đổ máu rồi uống thuốc độc tự tận.

Hoà ước Giáp Tuất (15/3/1874)

Năm 1873, Francis Garnier đưa quân ra Bắc Kỳ, đánh chiếm thành Hà Nội và nhiều tỉnh lân cận. Cuối năm đó, Garnier bị phục kích và tử trận ở Cầu Giấy. Paris không muốn mở rộng chiến sự; viên thanh tra Philastre được cử ra thương lượng, quân Pháp rút khỏi các thành ở Bắc Kỳ, và một hoà ước mới được ký tại Sài Gòn.

Phía triều Nguyễn là Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường, phía Pháp là thống đốc Nam Kỳ, thiếu tướng hải quân Dupré. Hoà ước gồm 22 điều, các điểm đáng chú ý:

  • Công nhận mất trọn Nam Kỳ: triều Nguyễn thừa nhận chủ quyền hoàn toàn của Pháp trên cả sáu tỉnh.
  • Độc lập "với mọi ngoại quốc": Pháp công nhận nhà vua có chủ quyền và hoàn toàn độc lập đối với bất kỳ nước ngoài nào. Câu chữ này nhằm vào quan hệ triều cống với nhà Thanh.
  • Ngoại giao: nhà vua cam kết làm cho chính sách đối ngoại phù hợp với chính sách của Pháp, không thay đổi quan hệ ngoại giao hiện có mà không báo cho Pháp.
  • Thương mại: mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng), thành phố Hà Nội và đường sông Hồng từ biển lên tới Vân Nam.
  • Đền bù: Pháp tặng tàu, súng, đạn dược và cử người huấn luyện; phần bồi thường chiến phí còn nợ Pháp được bỏ.
  • Tôn giáo: xác nhận lại quyền tự do đạo Thiên Chúa.

Mấy tháng sau, hai bên ký thêm một hoà ước thương mại. Về hình thức, Giáp Tuất có vẻ "mềm": Pháp rút khỏi Bắc Kỳ, tặng vũ khí. Nhưng điều khoản về độc lập và ngoại giao đặt nền cho việc tách Đại Nam khỏi nhà Thanh và kéo nó vào vòng ảnh hưởng của Pháp. Đây là cách một bên mạnh mua bằng quà tặng những điều khoản có giá trị lâu dài hơn nhiều.

Hoà ước Quý Mùi (25/8/1883)

Năm 1882, Henri Rivière đánh chiếm thành Hà Nội lần nữa và tử trận năm 1883 cũng ở Cầu Giấy. Tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất; triều đình rối loạn vì chuyện nối ngôi. Tháng 8, hạm đội Pháp tấn công cửa Thuận An, cửa ngõ của kinh thành Huế. Trong thế bị đe doạ ngay tại kinh đô, triều đình của vua Hiệp Hoà ký hoà ước với cao uỷ Harmand.

Người ký phía triều Nguyễn là Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp. Hoà ước gồm 27 điều, thường được gọi là hoà ước Harmand:

  • Bảo hộ: nước Nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp; mọi quan hệ đối ngoại, kể cả với nhà Thanh, do Pháp điều khiển.
  • Cắt đất: tỉnh Bình Thuận nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp; ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ.
  • Quân sự: Pháp đóng quân ở các đồn Thuận An và dọc sông Hồng; quân triều đình ở Bắc Kỳ phải rút về.
  • Bộ máy cai trị: một khâm sứ Pháp ở Huế có quyền yết kiến riêng nhà vua; các công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kỳ kiểm soát việc cai trị của quan lại.
  • Thuế quan: thuế quan toàn cõi giao cho người Pháp quản lý.

Hoà ước Quý Mùi khắc nghiệt tới mức chính phía Pháp cũng thấy khó thi hành, một phần vì nhà Thanh vẫn coi mình có quyền ở Bắc Kỳ và quân Thanh đang đóng ở nhiều tỉnh. Ngày 11 tháng 5 năm 1884, Pháp và nhà Thanh ký hiệp định Thiên Tân, trong đó nhà Thanh hứa rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng các hiệp ước giữa Pháp và triều Nguyễn.

Hoà ước Giáp Thân (6/6/1884)

Có được sự nhượng bộ của nhà Thanh, Pháp thay hoà ước Quý Mùi bằng một văn bản "ôn hoà" hơn về hình thức. Hoà ước ký tại Huế giữa công sứ Patenôtre và phái đoàn triều đình do Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan đứng tên, dưới triều vua Kiến Phúc. Hoà ước gồm 19 điều, thường gọi là hoà ước Patenôtre:

  • Trả lại đất: Bình Thuận và ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh trở về với Trung Kỳ.
  • Bảo hộ: giữ nguyên nền bảo hộ; Pháp thay mặt nước Nam trong mọi quan hệ đối ngoại.
  • Chia hai chế độ: ở Trung Kỳ, quan lại triều đình vẫn cai trị, chỉ trừ thuế quan và công chính; ở Bắc Kỳ, các công sứ Pháp kiểm soát chặt hơn hẳn.
  • Khâm sứ: đại diện Pháp ở Huế giữ quyền yết kiến riêng nhà vua.

Chi tiết mang tính biểu tượng nhất xảy ra ngay hôm ký: chiếc ấn mà nhà Thanh phong cho vua nước Nam bị nấu chảy trước mặt đại diện hai bên. Cử chỉ ấy đánh dấu việc chấm dứt quan hệ phong – cống với phương Bắc đã kéo dài nhiều thế kỷ, và thay vào đó là một chủ mới.

Đọc bốn hoà ước cạnh nhau

Hoà ướcNămNgười ký phía triều NguyễnLãnh thổChủ quyền
Nhâm Tuất1862Phan Thanh Giản, Lâm Duy HiệpMất 3 tỉnh miền Đông và Côn LônCòn tự chủ, nhưng không được nhượng đất cho nước khác
Giáp Tuất1874Lê Tuấn, Nguyễn Văn TườngCông nhận mất trọn 6 tỉnh Nam KỳĐối ngoại phải phù hợp chính sách Pháp
Quý Mùi1883Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng HợpThêm Bình Thuận vào Nam Kỳ; Thanh – Nghệ – Tĩnh vào Bắc KỳChấp nhận bảo hộ
Giáp Thân1884Phạm Thận Duật, Tôn Thất PhanTrả lại Bình Thuận và Thanh – Nghệ – TĩnhBảo hộ được hệ thống hoá; Bắc Kỳ và Trung Kỳ hai chế độ

Nhìn bảng, có một mô hình dễ thấy: mỗi văn bản sau đều lấy văn bản trước làm điểm xuất phát, chứ không mở lại từ đầu. Điều khoản "không nhượng đất cho nước khác" năm 1862 tưởng nhỏ, nhưng đã báo trước tư duy độc chiếm. Điều khoản "độc lập với mọi ngoại quốc" năm 1874 nghe như một sự tôn trọng, thực chất là tách nước Nam khỏi chỗ dựa phương Bắc. Và hoà ước Giáp Thân trả lại đất của hoà ước Quý Mùi, nhưng giữ nguyên phần cốt lõi là bảo hộ.

Bài học về đàm phán dưới sức ép

  • Nhượng bộ từng phần là con dốc trơn. Mỗi lần ký là một điểm xuất phát mới cho lần đòi tiếp theo.
  • Quà tặng có thể là một cái giá. Súng và tàu năm 1874 đi kèm những điều khoản về ngoại giao có giá trị lâu dài hơn.
  • Trả lại một phần để giữ phần chính. Giáp Thân 1884 nới nhẹ về đất để hợp thức hoá cái quan trọng hơn.
  • Đánh giá những người ký cần đặt vào hoàn cảnh. Các sử gia vẫn tranh luận về trách nhiệm của từng người. Điều chắc chắn là họ ký trong thế yếu về quân sự, triều đình chia rẽ, và có lúc súng đã chĩa vào kinh thành.

Muốn tìm hiểu thêm

Nguyên văn các hoà ước bằng chữ Hán và tiếng Pháp có trong các tuyển tập tư liệu lịch sử cận đại Việt Nam, nhiều bộ đã được dịch và in. Đại Nam thực lục, phần chép đời Tự Đức, ghi lại các cuộc bàn bạc trong triều quanh từng hoà ước. Ở Huế, Bảo tàng Cổ vật Cung đình và khu kinh thành giúp hình dung bối cảnh triều đình thời ấy; ở Vĩnh Long có đền thờ Phan Thanh Giản. Đọc kèm sách của Trần Văn Giàu hay Nguyễn Thế Anh về giai đoạn này để thấy các cách đánh giá khác nhau.

Câu hỏi thường gặp

Hoà ước Nhâm Tuất 1862 có nội dung gì?

Hoà ước ký ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn, triều Nguyễn nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn, mở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên, cho tự do truyền đạo và bồi thường 4 triệu đồng bạc trong 10 năm.

Hoà ước Giáp Tuất 1874 khác hoà ước Nhâm Tuất thế nào?

Giáp Tuất buộc triều Nguyễn công nhận Pháp có chủ quyền trên cả sáu tỉnh Nam Kỳ, chứ không chỉ ba tỉnh. Nó còn ràng buộc chính sách đối ngoại của nước Nam phải phù hợp với Pháp, mở thêm cửa Thị Nại, Ninh Hải, Hà Nội và sông Hồng.

Hoà ước Patenôtre 1884 là gì?

Đó là hoà ước Giáp Thân, ký tại Huế ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa công sứ Patenôtre và triều Nguyễn. Hoà ước xác lập nền bảo hộ của Pháp, chia Bắc Kỳ và Trung Kỳ thành hai chế độ cai trị khác nhau, và trả lại cho Trung Kỳ những tỉnh đã bị cắt theo hoà ước Quý Mùi.

Ai ký hoà ước Quý Mùi 1883?

Phía triều Nguyễn là Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp, phía Pháp là cao uỷ Harmand. Hoà ước ký ngày 25 tháng 8 năm 1883, ngay sau khi quân Pháp tấn công cửa Thuận An.

Vì sao ấn của nhà Thanh bị nấu chảy năm 1884?

Chiếc ấn nhà Thanh phong cho vua nước Nam bị nấu chảy ngay trong ngày ký hoà ước Giáp Thân, nhằm đánh dấu việc chấm dứt quan hệ phong – cống với phương Bắc. Từ đó, quan hệ đối ngoại của nước Nam do Pháp nắm.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác