Quyền LựcWiki
Tìm
Sứ thần & ngoại giao xưa

Mạc Đĩnh Chi Lưỡng quốc Trạng nguyên: tách sử liệu khỏi giai thoại

Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm 1304, đi sứ nhà Nguyên khoảng 1308. Danh hiệu Lưỡng quốc Trạng nguyên và các câu đối nổi tiếng là giai thoại, không có trong chính sử.

Mạc Đĩnh Chi Lưỡng quốc Trạng nguyên: tách sử liệu khỏi giai thoại

Mạc Đĩnh Chi (khoảng 1280–1346) là Trạng nguyên khoa thi năm 1304 đời Trần Anh Tông, được cử đi sứ nhà Nguyên khoảng năm 1308, nổi tiếng về tài ứng đối. Danh hiệu "Lưỡng quốc Trạng nguyên" (Trạng nguyên của hai nước) mà dân gian gán cho ông là một giai thoại: không có sử liệu đáng tin nào cho thấy nhà Nguyên phong ông như vậy, và chính nhà Nguyên tới năm 1315 mới tổ chức khoa thi tiến sĩ đầu tiên. Đọc về Mạc Đĩnh Chi, điều cần nhất là tách được phần sử ghi với phần người đời sau kể.

Những gì sử liệu chép về Mạc Đĩnh Chi

Nguồn chính là Đại Việt sử ký toàn thư, bổ sung bởi Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và các sách đăng khoa lục. Từ những nguồn này, có thể rút ra một số điểm khá chắc chắn:

  • Quê quán: làng Lũng Động, vùng Chí Linh thuộc xứ Hải Dương xưa.
  • Đỗ Trạng nguyên năm 1304 (năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long đời Trần Anh Tông), trong một khoa thi lớn có nhiều người đỗ.
  • Ngoại hình: sử cũ ghi ông người nhỏ bé, tướng mạo xấu.
  • Đi sứ nhà Nguyên vào khoảng năm 1308.
  • Làm quan qua nhiều đời vua Trần, lên tới hàng đại thần; cách ghi phổ biến là chức Tả bộc xạ.
  • Nổi tiếng thanh liêm, nhà nghèo. Sử cũ còn chép chuyện nhà vua sai người lén để tiền ở nhà ông để thử lòng, ông đem trình lại.
  • Mất khoảng năm 1346.

Ông còn để lại bài Ngọc tỉnh liên phú (Phú hoa sen trong giếng ngọc). Truyện kể rằng khi thấy ông xấu, vua có ý không muốn chọn ông đỗ đầu, ông làm bài phú này, mượn hình ảnh hoa sen thanh cao trong giếng để nói về người tài bị coi thường vì vẻ ngoài. Bài phú là có thật và còn lưu, còn hoàn cảnh ra đời cụ thể thì thuộc về chuyện kể.

Bối cảnh chuyến đi sứ

Đầu thế kỷ 14, nhà Trần vừa trải qua ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (1258, 1285, 1287–1288). Sau chiến tranh, hai bên khôi phục bang giao, nhưng nhà Nguyên vẫn nhiều lần đòi vua Trần sang chầu, và quan hệ luôn căng thẳng. Một sứ thần sang nhà Nguyên lúc ấy phải vừa giữ được thể diện cho nước mình, vừa không gây cớ cho chiến tranh mới.

Chính bối cảnh đó khiến người đời sau dễ dệt thêm chuyện: một nước nhỏ vừa thắng nước lớn bằng gươm giáo nay lại thắng bằng chữ nghĩa ngay giữa triều đình đối phương. Nhu cầu kể chuyện tự hào là có thật, nhưng không biến chuyện kể thành sử.

Những giai thoại nổi tiếng

Các chuyện dưới đây được ghi trong một số tập ghi chép đời sau và truyền miệng rộng rãi. Chúng hay, có ý nghĩa văn hoá, nhưng không có trong chính sử nhà Trần.

Cửa ải đóng

Chuyện kể sứ đoàn tới cửa ải muộn, cửa đã đóng. Quan giữ ải ra một vế đối, ý rằng qua cửa ải, cửa ải đóng, mời khách qua đường đối được thì mới cho qua. Mạc Đĩnh Chi đối lại bằng một vế cùng lối chơi chữ, ý rằng ra vế đối thì dễ, đối lại thì khó, mời tiên sinh đối trước. Cửa ải được mở.

Bức trướng chim sẻ

Trong một buổi tiếp, ông thấy bức trướng thêu chim sẻ đậu cành trúc, tưởng là chim thật, bèn tới bắt, khiến mọi người cười. Ông liền xé bức trướng, giải thích rằng trúc là biểu tượng của người quân tử, sẻ là kẻ tiểu nhân; để tiểu nhân đè lên quân tử là điều không nên. Chuyện này mang dụng ý rõ ràng: biến một tình huống bị cười thành một bài học đạo đức cho chủ nhà.

Câu đối mặt trời, mặt trăng

Một quan nhà Nguyên ra vế đối lấy mặt trời là lửa, mây là khói, ý rằng mặt trời (tượng trưng phương Bắc) thiêu cháy mặt trăng (tượng trưng phương Nam). Mạc Đĩnh Chi đối lại lấy mặt trăng là cung, sao là đạn, ý rằng mặt trăng bắn rơi mặt trời. Vế đối thể hiện tinh thần không chịu lép.

Văn tế công chúa

Nhân một công chúa nhà Nguyên mất, ông được mời đọc văn tế và chỉ viết bốn hình ảnh: một đám mây trên trời xanh, một bông tuyết trong lò lửa, một bông hoa trong vườn thượng uyển, một vầng trăng trên Dao Trì; rồi than rằng mây tan, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết. Bài văn ngắn được truyền tụng vì vẻ đẹp và sự kiệm lời.

"Lưỡng quốc Trạng nguyên"

Tương truyền vua Nguyên khen tài ông, phong làm Trạng nguyên của nước mình nữa, nên gọi là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Như đã nói, đây là danh hiệu dân gian. Nhà Nguyên không tổ chức thi tiến sĩ cho tới năm 1315, sau chuyến đi của ông nhiều năm, và không có văn bản nào phía Nguyên ghi một việc phong như vậy.

Bảng tách sử liệu và giai thoại

Nội dungMức độ tin cậyNguồn
Đỗ Trạng nguyên năm 1304Chắc chắnToàn thư, đăng khoa lục
Người nhỏ bé, xấuCó ghi trong sửToàn thư
Đi sứ nhà Nguyên khoảng 1308Chắc chắnToàn thư
Bài Ngọc tỉnh liên phúVăn bản có thật, hoàn cảnh ra đời là chuyện kểVăn bản còn lưu
Đức thanh liêmCó ghi trong sử cũSử cũ
Đối đáp ở cửa ải, chim sẻ, mặt trời – mặt trăngGiai thoạiGhi chép đời sau, truyền miệng
Văn tế công chúaGiai thoạiGhi chép đời sau, truyền miệng
"Lưỡng quốc Trạng nguyên"Danh hiệu dân gian, không có căn cứ sử liệuTruyền miệng

Vì sao giai thoại vẫn có giá trị

Gạt giai thoại ra khỏi sử không có nghĩa là vứt chúng đi. Chúng cho ta biết người Việt thời sau hình dung về sứ thần lý tưởng thế nào: người ấy không cần cao lớn, không cần hùng hổ, mà phải nhanh trí, thuộc sách, biết đáp lại lời khiêu khích bằng một câu khiến đối phương không còn gì để nói. Đó là một quan niệm về quyền lực của trí tuệ, rất đặc trưng cho văn hoá Nho học.

Nhìn kỹ các giai thoại cũng thấy chúng lặp lại một khuôn: bị làm khó, đáp lại bằng chữ, lật ngược thế cờ. Khuôn này cũng xuất hiện trong chuyện Án Anh đi sứ nước Sở thời Xuân Thu và trong giai thoại về Giang Văn Minh sau này. Khi một câu chuyện mang khuôn mẫu chung quá rõ, khả năng nó được "may đo" cho nhân vật càng cao.

Mạc Đĩnh Chi và nhà Mạc

Hơn hai thế kỷ sau, Mạc Đăng Dung lập nhà Mạc (1527) và tự nhận là cháu nhiều đời của Mạc Đĩnh Chi. Việc này giúp dòng họ mới có một tổ tiên danh tiếng. Mối liên hệ huyết thống được ghi trong gia phả và các nguồn thời Mạc; giới nghiên cứu nhìn chung chấp nhận, dù khó kiểm chứng đầy đủ. Đây cũng là một ví dụ về cách danh tiếng của người xưa được dùng làm vốn chính trị cho người đời sau.

Góc nhìn hôm nay

Đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở quê ông, vùng Nam Sách – Chí Linh, vẫn còn, là nơi nhiều người đến cầu đỗ đạt. Tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố. Muốn tự kiểm chứng, có thể đọc các đoạn về đời Trần Anh Tông, Minh Tông trong Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch của Viện Khoa học xã hội), rồi đặt cạnh các tuyển tập giai thoại văn học để thấy rõ chỗ khác nhau. Đó là một bài tập phân biệt nguồn rất hay cho người học sử.

Câu hỏi thường gặp

Mạc Đĩnh Chi là ai?

Mạc Đĩnh Chi là Trạng nguyên khoa thi năm 1304 đời Trần Anh Tông, từng đi sứ nhà Nguyên và làm quan tới hàng đại thần. Ông nổi tiếng thanh liêm, tài văn chương và ứng đối nhanh.

Mạc Đĩnh Chi có thật là Lưỡng quốc Trạng nguyên không?

Không có sử liệu đáng tin nào xác nhận. Đây là danh hiệu dân gian; nhà Nguyên tới năm 1315 mới tổ chức khoa thi tiến sĩ đầu tiên, sau chuyến đi sứ của ông, và không có ghi chép nào về việc phong như vậy.

Mạc Đĩnh Chi đi sứ năm nào?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông đi sứ nhà Nguyên vào khoảng năm 1308, đời Trần Anh Tông, trong giai đoạn hai nước đã khôi phục bang giao sau chiến tranh.

Ngọc tỉnh liên phú là gì?

Ngọc tỉnh liên phú, nghĩa là phú hoa sen trong giếng ngọc, là bài phú của Mạc Đĩnh Chi còn lưu tới nay. Bài phú mượn hình ảnh hoa sen thanh cao để nói về người tài, gắn với truyện kể rằng vua từng chê ông xấu.

Mạc Đĩnh Chi có liên quan gì tới nhà Mạc?

Mạc Đăng Dung, người lập nhà Mạc năm 1527, tự nhận là cháu nhiều đời của Mạc Đĩnh Chi. Mối liên hệ được ghi trong gia phả và các nguồn thời Mạc, nhìn chung được chấp nhận nhưng khó kiểm chứng đầy đủ.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác