Quyền LựcWiki
Tìm
Sứ thần & ngoại giao xưa

Nguyễn Trãi và Quân trung từ mệnh tập: những bức thư đánh vào lòng người

Quân trung từ mệnh tập là tập thư Nguyễn Trãi soạn thay Lê Lợi gửi tướng nhà Minh trong khởi nghĩa Lam Sơn, dùng lý lẽ, chia rẽ và mở lối thoát để quân Minh tự rút về.

Nguyễn Trãi và Quân trung từ mệnh tập: những bức thư đánh vào lòng người

Quân trung từ mệnh tập là tập thư từ, văn kiện do Nguyễn Trãi (1380–1442) soạn thay Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427), phần lớn gửi cho các tướng nhà Minh như Vương Thông, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ, và gửi triều đình nhà Minh. Tên sách có nghĩa là "tập văn từ lệnh viết trong quân". Đây là một trong những văn bản ngoại giao kiệt xuất của lịch sử Việt Nam: dùng chữ để chia rẽ, làm nhụt ý chí đối phương, mở đường cho họ rút lui, đúng như người đời sau gọi là "đánh vào lòng người".

Văn bản đến với chúng ta thế nào

Sau khi Nguyễn Trãi bị giết oan trong vụ án Lệ Chi Viên năm 1442, phần lớn trước tác của ông bị thất lạc. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông giải oan cho ông và cho sưu tầm lại thơ văn. Các văn bản của Quân trung từ mệnh tập về sau được chép tay, truyền lại qua nhiều đời, và được Dương Bá Cung đưa vào bộ Ức Trai di tập khắc in năm 1868 dưới triều Tự Đức.

Vì đi qua nhiều tay chép, số văn bản và câu chữ giữa các bản không hoàn toàn giống nhau. Các bản dịch hiện đại, như trong Nguyễn Trãi toàn tập, còn bổ sung thêm những văn kiện chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, nên tổng số dao động khoảng sáu, bảy chục văn kiện tuỳ cách tính. Một vài bức có ý kiến cho là không chắc của Nguyễn Trãi, nhưng phần cốt lõi được giới nghiên cứu thừa nhận.

Bối cảnh: mười năm từ núi rừng tới vòng vây Đông Quan

Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra năm 1418 ở vùng Thanh Hoá. Những năm đầu, nghĩa quân nhiều lần bị dồn vào thế khó. Từ năm 1424, theo kế của Nguyễn Chích, nghĩa quân chuyển vào Nghệ An, rồi lần lượt giải phóng phía nam và tiến ra Bắc. Cuối năm 1426, sau trận Tốt Động – Chúc Động, quân Minh do Vương Thông chỉ huy bị vây trong thành Đông Quan (Hà Nội).

Đây là lúc các thư từ có sức nặng nhất. Nghĩa quân đã mạnh nhưng chưa đủ để đánh chiếm thành lớn với ít thương vong. Nhà Minh còn có thể gửi viện binh. Một chiến thắng bằng lời nói, tức khiến quân Minh tự rút, sẽ rẻ hơn nhiều so với một chiến thắng bằng máu.

Những kỹ thuật thuyết phục trong các bức thư

Đặt mình vào chính nghĩa

Nhiều thư mở đầu bằng việc nhắc lại cớ mà nhà Minh đưa ra khi sang năm 1406: "phù Trần diệt Hồ", giúp nhà Trần khôi phục. Nguyễn Trãi xoay chính cái cớ ấy lại: nếu quả thật muốn giúp nhà Trần, thì nay đã có người nhà Trần, cớ sao còn đóng quân, đặt quan cai trị, vơ vét của cải? Lập luận này buộc đối phương hoặc thừa nhận mình nói dối, hoặc phải rút.

Đánh vào lợi ích của từng tướng

Thư không chỉ nói đạo lý. Chúng nhắm thẳng vào những lo lắng rất người của các tướng bị vây: lương thực đã cạn, viện binh xa xôi, gia đình ở phương Bắc đang chờ, công danh sẽ ra sao nếu chết ở đất người. Có thư nhắc rằng nếu đầu hàng, họ được về nước an toàn, giữ được tính mạng và thể diện.

Chia rẽ đối phương

Thư gửi riêng cho từng tướng, với giọng khác nhau. Có khi tỏ thiện chí với người này, có khi nhấn mạnh tội lỗi của người kia. Mục đích là làm các tướng Minh nghi kỵ nhau, không còn đồng lòng giữ thành.

Mềm và cứng xen kẽ

Khi đối phương có dấu hiệu chần chừ, thư mềm mỏng, mời gọi giảng hoà. Khi đối phương lật lọng, thư đanh thép, kể tội, cảnh cáo. Nhịp điệu này cho thấy thư không phải để trút giận mà là công cụ có tính toán, ăn khớp với diễn biến quân sự.

Mở lối thoát

Điểm đáng học nhất: hầu như mọi bức thư đều để ngỏ một con đường cho quân Minh rút về mà không mất mặt. Một đối phương bị dồn vào góc, không còn lối thoát, sẽ đánh tới cùng. Một đối phương thấy có đường về sẽ cân nhắc.

Lá bài Trần Cảo và thể diện của nhà Minh

Đầu năm 1426, Lê Lợi cho lập Trần Cảo, người được giới thiệu là dòng dõi nhà Trần, làm vua trên danh nghĩa. Trong thư gửi nhà Minh, phía Lam Sơn nói rằng nước Nam nay đã có người họ Trần đứng đầu, đúng như mục tiêu nhà Minh từng tuyên bố. Nhà Minh có thể rút quân mà vẫn nói được rằng mình đã hoàn thành việc "phù Trần".

Đây là một nước cờ ngoại giao điển hình: không bắt đối phương thừa nhận thua, mà đưa cho họ một câu chuyện để kể về nhà. Sau khi nhà Minh rút quân, Trần Cảo bị phế bỏ; theo Toàn thư, ông uống thuốc độc chết năm 1428. Số phận ông cho thấy mặt lạnh lùng của những nước cờ như vậy.

Từ thư từ tới hội thề Đông Quan

Tháng 10 năm 1427, quân viện Minh do Liễu Thăng chỉ huy bị đánh tan trên đường qua ải Chi Lăng, Liễu Thăng tử trận; đạo viện binh của Mộc Thạnh ở hướng Vân Nam cũng rút lui. Thư của Nguyễn Trãi lúc này chuyển sang báo tin và khuyên Vương Thông chấp nhận thực tế: viện binh đã không còn, đường về đang mở.

Cuối năm 1427, hai bên làm lễ thề ở phía nam thành Đông Quan, cam kết quân Minh rút về nước, nghĩa quân bảo đảm an toàn và cấp thuyền, lương cho họ. Đầu năm 1428, quân Minh rút hết. Sau đó, Lê Lợi sai sứ sang nhà Minh tạ tội và xin phong, đóng lại cuộc chiến trên bàn giấy. Chi tiết hội thề không nằm trong phạm vi bài này; điều đáng nói là nó là đích đến của cả chuỗi văn thư trước đó.

Quân trung từ mệnh tập và Bình Ngô đại cáo

Quân trung từ mệnh tậpBình Ngô đại cáo
Thời điểmTrong chiến tranh, 1418–1427Sau chiến thắng, đầu năm 1428
Người đọcTướng Minh, triều đình Minh, đôi khi người trong nướcToàn dân trong nước
Mục đíchThuyết phục, chia rẽ, mở đường rút luiTuyên cáo chiến thắng, khẳng định chính nghĩa và nền độc lập
Giọng điệuThay đổi theo người nhận và tình thếHào hùng, tổng kết

Hai văn bản bổ sung cho nhau. Câu nổi tiếng trong Bình Ngô đại cáo, theo bản dịch quen thuộc, "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo", có thể xem là lời tổng kết cho tinh thần của các bức thư trong Quân trung từ mệnh tập.

Nhìn bằng con mắt của người học đàm phán

  • Chữ đi cùng sức. Thư của Nguyễn Trãi có sức nặng vì đứng sau nó là đội quân đang vây thành. Lời lẽ khéo đến đâu cũng không thay được thực lực.
  • Hiểu nỗi sợ của người nhận. Thư nói đúng vào chỗ các tướng Minh lo: lương, viện binh, gia đình, danh dự.
  • Cho đối phương một câu chuyện. Lá bài Trần Cảo giúp nhà Minh rút mà vẫn giữ được lời tuyên bố ban đầu.
  • Đừng dồn tới chân tường. Lối thoát an toàn làm giảm ý chí kháng cự của đối phương.

Muốn tìm hiểu thêm

Bản dịch đầy đủ có trong Nguyễn Trãi toàn tập do Viện Sử học biên soạn và các lần tái bản. Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc có đền thờ Nguyễn Trãi trên núi Côn Sơn, nơi ông sống những năm cuối đời; ở Hà Nội, làng Nhị Khê có đền thờ ông. Đọc kèm phần chép về những năm 1426–1428 trong Đại Việt sử ký toàn thư sẽ thấy rõ từng bức thư khớp với diễn biến trên chiến trường như thế nào.

Câu hỏi thường gặp

Quân trung từ mệnh tập là gì?

Đó là tập thư từ, văn kiện Nguyễn Trãi soạn thay Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn, chủ yếu gửi các tướng và triều đình nhà Minh. Tên sách có nghĩa là tập văn từ lệnh viết trong quân, nổi tiếng về nghệ thuật thuyết phục và "đánh vào lòng người".

Quân trung từ mệnh tập có bao nhiêu bức thư?

Số lượng khác nhau tuỳ bản. Các bản dịch hiện đại, có bổ sung văn kiện chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, thường gồm khoảng sáu, bảy chục văn kiện.

Nguyễn Trãi viết thư cho ai?

Người nhận chủ yếu là các tướng nhà Minh như Vương Thông, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ, cùng triều đình nhà Minh. Một số văn bản gửi cho các thành bị vây khuyên ra hàng.

Vì sao gọi là chiến lược "đánh vào lòng người"?

Vì các bức thư nhắm vào ý chí và nỗi lo của đối phương thay vì chỉ dựa vào sức mạnh quân sự: vạch trần cớ "phù Trần", nhắc tới lương thực cạn, gia đình ở xa, và luôn mở lối thoát an toàn để họ chịu rút.

Quân trung từ mệnh tập khác Bình Ngô đại cáo thế nào?

Quân trung từ mệnh tập là thư từ viết trong chiến tranh để thuyết phục đối phương, còn Bình Ngô đại cáo là bài cáo viết sau chiến thắng năm 1428 để tuyên bố với toàn dân. Cả hai đều do Nguyễn Trãi soạn thay Lê Lợi.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác