Quyền LựcWiki
Tìm
Sứ thần & ngoại giao xưa

Phái đoàn Iwakura 1871: Nhật Bản cử nửa chính phủ đi học phương Tây

Phái đoàn Iwakura rời Yokohama tháng 12/1871, qua Mỹ và châu Âu gần hai năm. Không sửa được hiệp ước bất bình đẳng, nhưng điều mang về định hướng cải cách Minh Trị.

Phái đoàn Iwakura 1871: Nhật Bản cử nửa chính phủ đi học phương Tây

Phái đoàn Iwakura là phái bộ ngoại giao và khảo sát do chính phủ Minh Trị cử đi Mỹ và châu Âu, rời Yokohama ngày 23 tháng 12 năm 1871 và về nước tháng 9 năm 1873, sau gần hai năm qua khoảng mười hai nước. Mục tiêu ban đầu là xin sửa lại các hiệp ước bất bình đẳng mà Mạc phủ đã ký; mục tiêu này thất bại. Nhưng điều phái đoàn mang về, một bức tranh chi tiết về cách các nước phương Tây vận hành, đã định hướng nhiều cải cách của Nhật Bản trong những thập niên sau.

Bối cảnh: một nhà nước mới với những hiệp ước cũ

Năm 1853, hạm đội của Matthew Perry tới vịnh Edo, buộc Nhật Bản mở cửa. Năm 1858, Mạc phủ Tokugawa ký các hiệp ước với Mỹ, Hà Lan, Nga, Anh, Pháp (thường gọi là hiệp ước An Chính). Các hiệp ước này có những điều khoản quen thuộc của thời đại: người nước ngoài được xét xử bởi lãnh sự nước mình, Nhật Bản không được tự quyết thuế nhập khẩu.

Năm 1868, cuộc Minh Trị Duy Tân lật đổ Mạc phủ, trao lại quyền cho Thiên hoàng. Chính quyền mới muốn sửa lại các hiệp ước, và các văn bản năm 1858 có một điều khoản cho phép xem xét lại từ năm 1872. Phái đoàn ra đời trong hoàn cảnh ấy: vừa tới chào xã giao các nước đã ký hiệp ước, vừa thăm dò khả năng sửa đổi, vừa học hỏi.

Thành phần: nửa chính phủ ra đi

Điều khiến phái đoàn đặc biệt là tầm cỡ của những người tham gia. Đây không phải một nhóm quan chức cấp thấp, mà gần một nửa giới lãnh đạo cao nhất của nhà nước mới:

Vai tròNgườiGhi chú
Trưởng đoàn, đại sứ đặc mệnh toàn quyềnIwakura TomomiQuý tộc triều đình, Hữu đại thần
Phó sứKido TakayoshiMột trong các lãnh đạo chủ chốt của Duy Tân, người phiên Chōshū
Phó sứŌkubo ToshimichiLãnh đạo phiên Satsuma, sau là nhân vật quyền lực nhất chính phủ
Phó sứItō HirobumiTrẻ nhất, biết tiếng Anh, từng du học ở Anh
Phó sứYamaguchi MasukaQuan chức ngoại giao
Thư ký ghi chépKume KunitakeNgười viết bản tường thuật chính thức

Tổng cộng khoảng năm mươi quan chức, kèm theo khoảng sáu mươi du học sinh được gửi đi học ở các nước. Trong số du học sinh có năm bé gái, nhỏ nhất là Tsuda Umeko mới sáu tuổi; về sau bà trở thành nhà giáo dục phụ nữ nổi tiếng. Những người ở lại Tokyo, như Saigō Takamori, được giao giữ chính phủ, với cam kết không thực hiện cải cách lớn nào trong lúc phái đoàn vắng mặt.

Lộ trình: từ San Francisco tới Sài Gòn

  1. Mỹ (1/1872 – 8/1872): tới San Francisco, đi xe lửa xuyên lục địa tới Washington. Ở lại khoảng bảy tháng, lâu hơn dự kiến nhiều.
  2. Anh (8/1872 – 12/1872): khoảng bốn tháng, thăm nhà máy, xưởng đóng tàu, mỏ than, ngân hàng ở London, Manchester, Liverpool, Glasgow, Edinburgh.
  3. Pháp, Bỉ, Hà Lan (12/1872 – 3/1873).
  4. Đức (3/1873): gặp thủ tướng Bismarck.
  5. Nga, Đan Mạch, Thuỵ Điển (3–4/1873).
  6. Ý, Áo, Thuỵ Sĩ (5–7/1873): có dự Hội chợ Thế giới ở Viên.
  7. Đường về (7–9/1873): qua kênh Suez, Ceylon, Singapore, Sài Gòn, Hồng Kông, Thượng Hải, về tới Yokohama ngày 13 tháng 9 năm 1873.

Đường về đi qua những vùng đất đã thành thuộc địa hoặc đang chịu sức ép của phương Tây, trong đó có Sài Gòn, khi ấy là thủ phủ Nam Kỳ thuộc Pháp. Với các thành viên phái đoàn, đó là bức tranh trực tiếp về điều có thể xảy ra với một nước châu Á không đủ mạnh.

Thất bại ở Washington: bài học về thẩm quyền

Tại Washington, phía Mỹ tỏ ra sẵn lòng bàn chuyện sửa hiệp ước. Phái đoàn vội vàng muốn bắt đầu đàm phán thật. Nhưng phía Mỹ chỉ ra rằng giấy uỷ nhiệm của họ chỉ cho phép thăm hỏi, không đủ để ký một hiệp ước mới. Ōkubo và Itō phải quay về Tokyo xin giấy uỷ nhiệm đầy đủ, mất mấy tháng đi về.

Trong thời gian đó, phái đoàn nhận ra hai vấn đề. Thứ nhất, đàm phán riêng với Mỹ có thể gây bất lợi, vì điều khoản tối huệ quốc trong các hiệp ước khiến mọi nhượng bộ của Nhật cho Mỹ sẽ tự động được các nước khác hưởng, còn các nhượng bộ của Mỹ thì không ràng buộc các nước kia. Thứ hai, các nước phương Tây sẽ không bỏ quyền lãnh sự tài phán khi Nhật Bản chưa có bộ luật và hệ thống toà án mà họ tin tưởng. Phái đoàn từ bỏ việc đàm phán, chuyển hẳn sang khảo sát.

Những điều phái đoàn mang về

Bismarck và bài học về luật quốc tế

Tại Berlin, tháng 3 năm 1873, phái đoàn được Bismarck tiếp. Theo ghi chép của Kume, Bismarck nói rằng luật quốc tế được các nước lớn tuân theo khi có lợi cho mình, và gạt sang một bên khi bất lợi; một nước nhỏ chỉ có thể dựa vào sức mạnh của chính mình. Ông kể lại chuyện nước Phổ từng nhỏ yếu và phải tự lớn lên. Lời này được các thành viên phái đoàn ghi nhớ, và nước Đức mới thống nhất về sau là một trong những hình mẫu mà Nhật Bản học theo về hiến pháp và quân đội.

Cũng nên đọc câu này đúng tầm: đó là lời một chính khách kể lại qua ghi chép của người khác, mang quan điểm của thời đại, không phải một học thuyết được kiểm chứng.

Bản tường thuật năm tập

Năm 1878, Kume Kunitake công bố bản tường thuật chính thức, Tokumei Zenken Taishi Bei-Ō Kairan Jikki (Bản ghi thật về chuyến thăm Mỹ – Âu của đại sứ đặc mệnh toàn quyền), gồm 100 quyển, in thành 5 tập. Sách ghi chép tỉ mỉ về nhà máy, trường học, nhà tù, nghị viện, bảo tàng, đường sắt, cả thói quen ăn uống và cách người ta tổ chức tang lễ.

Một nhận xét quan trọng rải rác trong sách: khoảng cách giữa Nhật Bản và phương Tây không phải là khoảng cách giữa hai nền văn minh khác nhau về bản chất, mà phần lớn là kết quả của vài chục năm công nghiệp hoá gần đây. Nghĩa là khoảng cách có thể rút ngắn được.

Sau chuyến đi

Cuộc tranh luận về Triều Tiên

Khi phái đoàn về tới năm 1873, những người ở lại đang muốn gây chiến với Triều Tiên, do triều đình Triều Tiên từ chối công nhận chính quyền Minh Trị. Iwakura, Ōkubo và Kido phản đối: theo họ, Nhật Bản cần ưu tiên cải cách trong nước, chưa đủ sức để phiêu lưu bên ngoài. Phe phái đoàn thắng, Saigō Takamori và nhiều người khác rời chính phủ. Cuộc chia rẽ này về sau dẫn tới nhiều biến động trong nước.

Các hiệp ước bất bình đẳng không được sửa ngay. Phải tới năm 1894, Nhật Bản mới ký được hiệp ước với Anh bãi bỏ lãnh sự tài phán, sau khi đã ban hành hiến pháp và các bộ luật mới. Quyền tự chủ hoàn toàn về thuế quan còn tới muộn hơn nữa.

So sánh với sứ bộ Phan Thanh Giản

Gần mười năm trước, năm 1863, triều Nguyễn cũng cử một sứ bộ sang Pháp và Tây Ban Nha. So sánh hai sứ bộ là một bài tập đáng làm:

  • Sứ bộ Phan Thanh Giản đi với một nhiệm vụ cụ thể là chuộc lại ba tỉnh, trong tình thế đã mất đất. Phái đoàn Iwakura đi khi đất nước chưa mất lãnh thổ nào.
  • Phái đoàn Iwakura gồm chính những người nắm quyền quyết định; khi về, họ có thể biến điều thấy thành chính sách. Ý kiến của sứ bộ năm 1863 khó thay đổi được đường lối của triều đình Huế.
  • Phái đoàn Iwakura dành phần lớn thời gian để khảo sát có hệ thống và công bố công khai; nhật ký của sứ bộ 1863 chủ yếu phục vụ việc báo cáo trong triều.

So sánh này không nhằm phán xét người đi sứ, mà để thấy rằng hiệu quả của một chuyến đi sứ phụ thuộc rất nhiều vào việc người đi có quyền đưa điều mình học được vào thực tế hay không.

Bài học về quyền lực

  • Kiểm tra thẩm quyền trước khi ngồi vào bàn. Giấy uỷ nhiệm thiếu đã khiến phái đoàn mất mấy tháng ở Washington.
  • Hiểu cấu trúc của thoả thuận cũ trước khi đòi sửa. Điều khoản tối huệ quốc khiến việc đàm phán riêng với một nước trở thành bất lợi.
  • Muốn được đối xử ngang hàng phải chứng minh mình đáp ứng được chuẩn của bên kia. Nhật Bản sửa được hiệp ước sau khi có hiến pháp và bộ luật mới.
  • Người quyết định nên đi xem tận mắt. Học hỏi qua báo cáo khác hẳn học hỏi bằng con mắt của chính người ra chính sách.

Muốn tìm hiểu thêm

Bản dịch tiếng Anh đầy đủ của tường thuật Kume, The Iwakura Embassy, 1871–73, gồm 5 tập, do Graham Healey và Chushichi Tsuzuki chủ biên. Sách tổng quan dễ đọc là The Iwakura Mission in America and Europe: A New Assessment do Ian Nish biên tập. Ở Tokyo, Đại học Tsuda mang tên Tsuda Umeko, cô bé sáu tuổi trong đoàn năm 1871.

Câu hỏi thường gặp

Phái đoàn Iwakura đi năm nào?

Phái đoàn rời Yokohama ngày 23 tháng 12 năm 1871 và về tới Yokohama ngày 13 tháng 9 năm 1873, sau gần hai năm thăm Mỹ và khoảng mười một nước châu Âu.

Mục đích của phái đoàn Iwakura là gì?

Phái đoàn có ba mục đích: chào xã giao các nước đã ký hiệp ước với Nhật Bản, thăm dò việc sửa các hiệp ước bất bình đẳng năm 1858, và khảo sát thể chế, công nghiệp, giáo dục của phương Tây.

Phái đoàn Iwakura có sửa được hiệp ước bất bình đẳng không?

Không. Phái đoàn bỏ ý định đàm phán sau thất bại ở Washington do thiếu giấy uỷ nhiệm và do nhận ra bất lợi của điều khoản tối huệ quốc. Nhật Bản chỉ bắt đầu sửa được hiệp ước từ năm 1894.

Ai tham gia phái đoàn Iwakura?

Trưởng đoàn là Iwakura Tomomi, các phó sứ gồm Kido Takayoshi, Ōkubo Toshimichi, Itō Hirobumi và Yamaguchi Masuka. Đi cùng có khoảng năm mươi quan chức và khoảng sáu mươi du học sinh, trong đó có năm bé gái.

Phái đoàn Iwakura có qua Việt Nam không?

Có. Trên đường về năm 1873, phái đoàn ghé Sài Gòn, khi ấy là thủ phủ Nam Kỳ thuộc Pháp, cùng với Ceylon, Singapore, Hồng Kông và Thượng Hải.

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực

Bài viết liên quan

Mở app Quyền Lực

Đọc nét mặt sứ giả, đổi chác khéo, giữ trọn chữ tín

Mở app Quyền Lực Xem app khác