Phùng Khắc Khoan (1528–1613) và Lê Quý Đôn (1726–1784) là hai gương mặt tiêu biểu nhất cho kiểu "sứ thần học giả" của Đại Việt: những người được chọn đi sứ không chỉ vì chức tước mà vì học vấn đủ để đối thoại ngang hàng với giới trí thức phương Bắc. Phùng Khắc Khoan sang nhà Minh năm 1597 để xin công nhận nhà Lê trung hưng; Lê Quý Đôn sang nhà Thanh năm 1760–1762 với tư cách phó sứ. Cả hai đều dùng chữ nghĩa làm công cụ ngoại giao, và đều để lại những cuộc gặp gỡ với sứ thần Triều Tiên được ghi chép ở cả hai phía.
Vì sao sứ thần phải là người giỏi chữ
Trong thế giới chung chữ Hán ở Đông Á, giao tiếp ngoại giao diễn ra chủ yếu bằng văn viết. Biểu văn dâng hoàng đế, công văn với quan lại, và đặc biệt là thơ xướng hoạ trong các buổi tiếp, đều là nơi một nước được đánh giá. Một sứ thần viết thơ vụng, dẫn điển sai, sẽ làm cả nước bị coi thường; một sứ thần uyên bác khiến đối phương phải nể. Vì vậy triều đình Việt thường chọn người đỗ đạt cao, giỏi thơ văn, làm chánh sứ hoặc phó sứ.
Ở Bắc Kinh, sứ thần Việt còn gặp sứ thần các nước khác cùng đến triều cống, nhất là Triều Tiên và Lưu Cầu. Họ không nói được tiếng của nhau nhưng viết được cùng một thứ chữ, nên trò chuyện bằng bút đàm và tặng thơ cho nhau. Đây là một kênh ngoại giao ngang hàng, khác hẳn quan hệ trên dưới với triều đình phương Bắc.
Phùng Khắc Khoan: chuyến đi sứ ở tuổi bảy mươi
Con người
Phùng Khắc Khoan, hiệu Nghị Trai, quê làng Phùng Xá (vùng Thạch Thất, Sơn Tây xưa, nay thuộc Hà Nội), dân gian gọi là Trạng Bùng theo tên Nôm của làng. Ông đỗ tiến sĩ năm 1580 khi đã ngoài năm mươi, trong một khoa thi do nhà Lê trung hưng tổ chức ở vùng Thanh Hoá, lúc nhà Mạc còn giữ Thăng Long. Thực tế ông không đỗ Trạng nguyên; chữ "Trạng" là cách gọi tôn kính của dân gian.
Sứ mệnh
Năm 1592, quân Lê – Trịnh lấy lại Thăng Long từ tay nhà Mạc. Nhưng nhà Minh từ năm 1540 đã công nhận họ Mạc, nên nhà Lê cần được nhà Minh thừa nhận thay thế. Năm 1597, Phùng Khắc Khoan, khi ấy khoảng bảy mươi tuổi, được cử làm chánh sứ sang Bắc Kinh. Phía Minh nghi ngờ người họ Lê có đúng là dòng dõi vua Lê cũ không, đòi khám xét nhiều thủ tục. Kết quả, nhà Minh chỉ trao cho vua Lê chức "An Nam đô thống sứ", giống như từng trao cho họ Mạc, chứ chưa phong "quốc vương". Dù không trọn vẹn, đây là bước công nhận chính thức đầu tiên đối với nhà Lê trung hưng.
Thơ mừng thọ và cuộc gặp sứ thần Triều Tiên
Nhân dịp lễ mừng thọ vua Vạn Lịch, ông dâng một tập thơ chúc thọ, sau được biết dưới tên Vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập. Ở Bắc Kinh, ông gặp sứ thần Triều Tiên Lý Tối Quang (Yi Su-gwang, 1563–1628). Hai người xướng hoạ thơ, bút đàm về phong tục, chế độ, học thuật của hai nước. Lý Tối Quang ghi lại cuộc gặp trong các trước tác của ông, trong đó có bộ Chi Phong loại thuyết, nên đây là một trong số ít cuộc gặp ngoại giao Việt – Hàn thời xưa có nguồn đối chiếu từ phía nước ngoài.
Phần truyền thuyết
Dân gian kể nhiều chuyện về Phùng Khắc Khoan: vua Minh khen tài mà gọi ông là Trạng nguyên, ông mang giống ngô (bắp) và nghề dệt the từ phương Bắc về truyền cho dân. Chuyện mang giống ngô được nhắc trong một số ghi chép đời sau và trong tín ngưỡng ở quê ông, nhưng nguồn gốc sớm nhất và mức độ chính xác vẫn còn bàn. Nên coi đây là truyền thống được tôn kính hơn là sự kiện đã kiểm chứng.
Lê Quý Đôn: nhà bác học ở Bắc Kinh
Con người
Lê Quý Đôn, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, quê làng Diên Hà (Thái Bình xưa), đỗ Bảng nhãn năm 1752. Ông là học giả có khối lượng trước tác lớn nhất thời trung đại Việt Nam, với những bộ sách như Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Đại Việt thông sử.
Sứ mệnh 1760–1762
Năm 1760, ông được cử làm phó sứ trong sứ bộ sang nhà Thanh thời vua Càn Long, chánh sứ là Trần Huy Mật. Chuyến đi kéo dài tới năm 1762. Ông ghi chép tỉ mỉ đường đi, nghi lễ, công văn trong tập Bắc sứ thông lục.
Cuộc phản đối chữ "di"
Trên đường đi, công văn của quan lại nhà Thanh gọi sứ đoàn là "di quan, di mục", chữ "di" mang nghĩa người man di. Lê Quý Đôn gửi văn thư phản đối, lập luận rằng nước Nam là nước văn hiến, đã có quốc hiệu được triều đình phương Bắc công nhận, nên phải gọi theo tên nước. Theo ghi chép của ông, phía Thanh đã sửa cách gọi. Đây là một ví dụ rõ ràng về việc tranh chấp thể diện qua câu chữ, không cần lớn tiếng.
Bút đàm với sứ thần Triều Tiên và văn nhân Trung Hoa
Ở Bắc Kinh, ông bút đàm và trao đổi thơ văn với sứ thần Triều Tiên cùng thời, trao đổi về sách vở, học thuật, phong tục. Ông cũng đưa một số trước tác của mình cho văn nhân nhà Thanh đọc; bộ Quần thư khảo biện của ông được người Trung Hoa đề tựa. Với ông, chuyến đi sứ còn là cơ hội tiếp cận sách vở, trong đó có những sách của giáo sĩ phương Tây dịch sang chữ Hán về thiên văn, địa lý, mà ông sau đó nhắc tới trong Vân đài loại ngữ.
Một số sứ thần học giả khác
| Người | Năm đi sứ | Dấu ấn để lại |
|---|---|---|
| Phùng Khắc Khoan | 1597 | Thơ chúc thọ vua Vạn Lịch; xướng hoạ với Lý Tối Quang |
| Lê Quý Đôn | 1760–1762 | Bắc sứ thông lục; phản đối chữ "di" |
| Phan Huy Ích | 1790 | Thơ văn trong sứ bộ sang mừng thọ vua Càn Long thời Tây Sơn |
| Nguyễn Du | 1813–1814 | Chánh sứ thời Gia Long; tập thơ Bắc hành tạp lục |
| Phan Huy Chú | 1825, 1831 | Các tập thơ đi sứ; tác giả Lịch triều hiến chương loại chí |
Điều gì làm nên một sứ thần học giả
- Học vấn là một dạng quyền lực mềm. Người đối diện khó coi thường một nước có người viết thơ hay hơn mình, dẫn kinh sử chuẩn hơn mình.
- Kiên nhẫn với thủ tục. Phùng Khắc Khoan phải trải qua nhiều vòng khám xét của nhà Minh. Ông không đạt hết mục tiêu, nhưng đạt được bước quan trọng nhất là sự công nhận.
- Tranh thể diện bằng lý lẽ. Lê Quý Đôn không tranh cãi bằng cảm xúc mà bằng lập luận về văn hiến và danh xưng chính thức.
- Đi sứ cũng là đi học. Sứ thần mang về sách vở, kiến thức, và cả mối quan hệ với trí thức các nước.
Góc nhìn hôm nay
Đền thờ Phùng Khắc Khoan ở Phùng Xá (Thạch Thất, Hà Nội) vẫn là nơi tổ chức lễ hội hằng năm. Ở quê Lê Quý Đôn có khu lưu niệm và nhà thờ dòng họ. Văn bia tiến sĩ của Phùng Khắc Khoan và Lê Quý Đôn đều có ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội. Muốn đọc nguồn, có thể tìm các bản dịch Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, và các nghiên cứu về thơ đi sứ trong bộ Việt Nam Hán văn yến hành văn hiến tập thành (2010).
Câu hỏi thường gặp
Phùng Khắc Khoan đi sứ năm nào?
Phùng Khắc Khoan đi sứ nhà Minh năm 1597, khi đã khoảng bảy mươi tuổi, với nhiệm vụ xin nhà Minh công nhận nhà Lê trung hưng sau khi lấy lại Thăng Long từ nhà Mạc.
Phùng Khắc Khoan có phải Trạng nguyên không?
Không. Ông đỗ tiến sĩ năm 1580, còn "Trạng Bùng" là cách gọi tôn kính của dân gian theo tên Nôm quê ông. Chuyện vua Minh phong ông là Trạng nguyên thuộc về giai thoại.
Lê Quý Đôn đi sứ Trung Quốc khi nào?
Lê Quý Đôn làm phó sứ trong sứ bộ sang nhà Thanh từ năm 1760 tới năm 1762, thời vua Càn Long. Ông ghi lại chuyến đi trong Bắc sứ thông lục.
Lê Quý Đôn phản đối chữ "di" là chuyện gì?
Công văn nhà Thanh gọi sứ đoàn Việt là "di quan, di mục", tức quan man di. Lê Quý Đôn gửi văn thư phản đối, yêu cầu gọi theo quốc hiệu chính thức, và theo ghi chép của ông, phía Thanh đã sửa.
Phùng Khắc Khoan gặp sứ thần Triều Tiên nào?
Ông gặp Lý Tối Quang (Yi Su-gwang) ở Bắc Kinh năm 1597. Hai người xướng hoạ thơ và bút đàm, cuộc gặp được Lý Tối Quang ghi lại trong trước tác của mình.