Sứ bộ Phan Thanh Giản là phái đoàn triều Nguyễn sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863–1864, do Phan Thanh Giản làm chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ, Ngụy Khắc Đản làm bồi sứ. Nhiệm vụ là xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã nhượng theo hoà ước Nhâm Tuất 1862, bằng một khoản tiền. Hoàng đế Napoléon III tỏ ý chấp thuận, một bản hoà ước mới được thương lượng ở Huế năm 1864, nhưng Paris rốt cuộc không phê chuẩn. Đây là chuyến đi sứ chính thức đầu tiên của triều Nguyễn tới châu Âu, và là lần đầu các quan lại cao cấp Việt Nam tận mắt thấy một nước công nghiệp.
Vì sao lại đi chuộc đất
Hoà ước Nhâm Tuất, ký ngày 5 tháng 6 năm 1862, buộc triều đình nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn. Trong triều và ngoài dân, hoà ước bị phản đối mạnh; ở ba tỉnh, phong trào kháng Pháp vẫn tiếp tục. Vua Tự Đức muốn tìm đường lấy lại đất mà không phải đánh.
Triều đình đánh giá rằng ở Paris có những người không muốn tốn kém cho một thuộc địa xa xôi, và nếu đề nghị trả tiền thì có thể đổi được ý. Đánh giá này không phải vô căn cứ: trong chính giới Pháp lúc ấy thật sự có tranh cãi về việc giữ hay bỏ Nam Kỳ. Vấn đề là ai thắng trong cuộc tranh cãi ấy.
Thành phần sứ bộ
| Chức danh | Người | Ghi chú |
|---|---|---|
| Chánh sứ | Phan Thanh Giản | Hiệp biện đại học sĩ, người đã ký hoà ước 1862, tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ (1826) |
| Phó sứ | Phạm Phú Thứ | Quan văn người Quảng Nam, về sau là người đề xướng nhiều ý kiến canh tân |
| Bồi sứ | Ngụy Khắc Đản | Quan văn trong triều, người thứ ba của sứ bộ |
| Thông ngôn | Trương Vĩnh Ký và một số người khác | Phía Pháp cử người phiên dịch đi cùng |
Cùng đi còn nhiều tuỳ viên, người hầu, binh lính, tổng cộng khoảng sáu bảy chục người. Đoàn mang theo quốc thư của vua Tự Đức và lễ vật.
Lộ trình của sứ bộ
- Tháng 7 năm 1863: rời cửa Thuận An trên tàu của Pháp, vào Sài Gòn, chuyển sang tàu lớn đi châu Âu.
- Trên đường: qua Singapore, Ceylon, Aden, tới Suez. Lúc ấy kênh Suez chưa hoàn thành (khánh thành năm 1869), nên đoàn đi xe lửa qua Ai Cập tới Alexandria rồi mới xuống tàu qua Địa Trung Hải. Có lẽ đây là lần đầu người Việt đi xe lửa.
- Tháng 9 năm 1863: cập cảng Toulon, lên Paris.
- Tháng 11 năm 1863: được Napoléon III tiếp kiến tại cung Tuileries, trình quốc thư.
- Cuối năm 1863: sang Tây Ban Nha, nước cùng ký hoà ước 1862, được nữ hoàng Isabel II tiếp.
- Đầu năm 1864: lên đường về, tới Huế khoảng tháng 3 năm 1864.
Ở Pháp, sứ bộ được dẫn đi thăm xưởng đúc súng, xưởng đóng tàu, nhà máy dệt, trường học, bệnh viện, nhà in, đài thiên văn, đường sắt, hệ thống điện báo. Nhật ký của phái đoàn, mà phần nổi tiếng nhất do Phạm Phú Thứ ghi (thường được biết dưới tên Tây hành nhật ký), ghi chép tỉ mỉ những điều thấy, có chỗ ngạc nhiên, có chỗ cố tìm từ Hán để gọi tên những thứ chưa từng có từ.
Cuộc thương lượng ở Paris
Phía triều Nguyễn đề nghị Pháp trả lại ba tỉnh, đổi lại triều đình sẽ trả một khoản tiền và cho Pháp giữ một số nơi buôn bán. Napoléon III tỏ ra có thiện cảm. Sau khi sứ bộ về, ông cử Gabriel Aubaret, một sĩ quan hải quân biết tiếng Hán, sang Huế thương lượng một hoà ước mới.
Năm 1864, Aubaret và triều đình Huế thoả thuận được một bản hoà ước: Pháp trả lại phần lớn ba tỉnh, chỉ giữ Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một và một số điểm; triều Nguyễn chấp nhận một hình thức bảo hộ của Pháp ở Nam Kỳ và trả một khoản tiền hằng năm. Nhưng ở Paris, bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa Chasseloup-Laubat cùng giới sĩ quan hải quân ở Nam Kỳ phản đối kịch liệt, cho rằng bỏ Sài Gòn là bỏ một vị trí chiến lược ở Viễn Đông. Napoléon III đổi ý. Bản hoà ước năm 1864 không bao giờ được phê chuẩn.
Đây là bài học đau về đàm phán: người tỏ ra thiện chí trên bàn không phải lúc nào cũng là người quyết định cuối cùng. Phía Việt đã thuyết phục được hoàng đế, nhưng không có cách nào tiếp cận những người thật sự nắm việc thuộc địa.
Những điều thấy và những điều nói
Sau khi về, Phan Thanh Giản dâng sớ tâu về sức mạnh của phương Tây. Các tài liệu cho thấy ông đánh giá rằng nước Pháp giàu mạnh hơn hẳn, việc dùng binh với họ khó thắng, và triều đình cần hết sức thận trọng. Phạm Phú Thứ về sau dâng nhiều đề nghị canh tân như mở trường học, dịch sách, mở mang buôn bán. Phần lớn các đề nghị này không được thực hiện ở quy mô đủ lớn.
Dân gian còn truyền một bài thơ được gán cho Phan Thanh Giản, mở đầu bằng ý "từ ngày đi sứ đến Tây kinh, thấy việc Âu châu phải giật mình", kêu gọi đồng bào thức tỉnh. Giới nghiên cứu nhìn chung cho rằng bài thơ này nhiều khả năng ra đời muộn hơn và được gán cho ông; lời lẽ và tư tưởng của nó gần với tinh thần đầu thế kỷ 20 hơn là với ngôn ngữ của một đại thần năm 1864. Vì vậy nên coi đây là thơ truyền tụng, không phải trước tác đã kiểm chứng.
Kết cục của người chánh sứ
Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Phan Thanh Giản, khi ấy làm Kinh lược sứ ba tỉnh này, nhận thấy không thể chống cự, đã giao thành để tránh đổ máu cho dân và quân, rồi tuyệt thực và uống thuốc độc tự tận. Triều đình truy tội ông, tước hết chức hàm. Đánh giá về ông, từ thời ấy tới nay, vẫn còn nhiều tranh luận: có người coi ông là người chịu trách nhiệm cho việc mất đất, có người coi ông là một nhà nho thanh liêm bị đặt vào tình thế không lối thoát.
Bài học từ sứ bộ 1863
- Tìm đúng người quyết định. Thuyết phục được hoàng đế không đủ khi bộ máy thuộc địa có tiếng nói riêng.
- Đòi lại thứ đã ký nhượng khó hơn nhiều so với giữ nó từ đầu. Bên kia đã có trong tay, và có những nhóm lợi ích muốn giữ.
- Thông tin chỉ có ích khi được dùng. Những gì sứ bộ thấy ở Pháp được ghi chép tỉ mỉ, nhưng chuyển thành chính sách thì rất chậm.
- Người đi sứ thường phải gánh trách nhiệm của cả triều đình. Phan Thanh Giản ký hoà ước, đi chuộc đất, rồi giao thành; mỗi việc đều trong tình thế yếu mà ông không tạo ra.
Muốn tìm hiểu thêm
Nhật ký đi sứ của Phạm Phú Thứ đã được dịch và in trong các tuyển tập trước tác của ông. Ở Vĩnh Long có đền thờ và mộ Phan Thanh Giản; ở Quảng Nam có nhà thờ Phạm Phú Thứ. Ở Pháp, một số tranh ảnh, báo chí năm 1863 có mô tả sứ bộ, có thể tìm trong các kho lưu trữ số của Thư viện Quốc gia Pháp. Đọc kèm bài về phái đoàn Iwakura năm 1871 của Nhật Bản để so sánh hai cách một nước châu Á đi tìm hiểu phương Tây.
Câu hỏi thường gặp
Phan Thanh Giản sang Pháp năm nào?
Sứ bộ do Phan Thanh Giản làm chánh sứ rời Huế tháng 7 năm 1863, tới Pháp tháng 9 năm 1863, được Napoléon III tiếp kiến tháng 11, sau đó sang Tây Ban Nha và về tới Huế khoảng tháng 3 năm 1864.
Mục đích của sứ bộ Phan Thanh Giản là gì?
Sứ bộ được cử sang để xin chuộc lại ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường đã nhượng cho Pháp theo hoà ước Nhâm Tuất 1862, bằng cách trả một khoản tiền và nhượng một số quyền lợi khác.
Vì sao việc chuộc ba tỉnh thất bại?
Napoléon III ban đầu tỏ ý chấp thuận và cử Aubaret sang Huế thương lượng hoà ước mới năm 1864. Nhưng bộ trưởng Hải quân Chasseloup-Laubat và giới hải quân phản đối mạnh, nên Paris không phê chuẩn bản hoà ước đó.
Sứ bộ Phan Thanh Giản gồm những ai?
Chánh sứ là Phan Thanh Giản, phó sứ là Phạm Phú Thứ, bồi sứ là Ngụy Khắc Đản, cùng các thông ngôn, trong đó có Trương Vĩnh Ký, và nhiều tuỳ viên, tổng cộng khoảng sáu bảy chục người.
Bài thơ "Từ ngày đi sứ đến Tây kinh" có phải của Phan Thanh Giản không?
Nhiều khả năng là không. Bài thơ được dân gian truyền và gán cho ông, nhưng giới nghiên cứu cho rằng nó ra đời muộn hơn, với lời lẽ và tư tưởng gần với đầu thế kỷ 20 hơn.